Các nghiên cứu về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp

 Các nghiên cứu của nước ngoài về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp

Khởi nghiệp không còn là vấn đề mới, trong các công trình nghiên cứu của nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu về khởi nghiệp nhưng những nghiên cứu liên quan đến thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp thì không có nhiều và chủ yếu theo các hướng nghiên cứu như sau:

Theo hướng chính sách thúc đẩy khởi nghiệp

Xu và Chen [185] đã đánh giá tác động của các chính sách khởi nghiệp đối với sự phát triển của các DNKN. Nghiên cứu đã điều tra 315 doanh nghiệp khởi nghiệp, sử dụng mô hình SEM để đánh giá yếu tố chính sách. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng chính sách thúc đẩy có tác động cùng chiều với sự phát triển của DNKN. Nghiên cứu cũng đề xuất một số chính sách để thúc đẩy khởi nghiệp như: hỗ trợ về vốn, hỗ trợ thuế, hỗ trợ thị trường…. Trong nghiên cứu của Reynolds và cộng sự

[153] sử dụng số liệu của 43 quốc gia trong giai đoạn từ 1998 đến 2003 đã khẳng định rõ vai trò của DNKN đối với sự phát triển của nền kinh tế và chính sách hỗ trợ khởi nghiệp sẽ giúp các DNKN vượt qua được những khó khăn ban đầu, đây sẽ là nền tảng để phát triển một nền kinh tế mới trong tương lai. Tuy nhiên trong nghiên cứu này chưa chỉ ra được tính đặc thù của từng quốc gia đối với các chính sách thúc đẩy khởi nghiệp. Nghiên cứu Yang [186], sử dụng mô hình SEM với việc phỏng vấn 1231 người trả lời từ 31 tỉnh thành và chỉ ra chính sách hỗ trợ khởi nghiệp có vai trò hàng đầu trong việc tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động khởi nghiệp đặc biệt là các sinh viên tại các trường đại học cao đẳng. Đồng quan điểm đó, Xie và cộng sự [184] cũng cho rằng mỗi địa phương có những điều kiện khác nhau, các nhà xây dựng chính sách cần chú ý đến những nguồn lực hiện tại để có những những chính sách phù hợp và điều chỉnh theo xu hướng của thị trường. Tuy nhiên các nghiên cứu này mới dừng ở dưới góc độ các DNKN mà chưa có góc nhìn từ các nhà quản lý Nhà nước như quá trình xây dựng, ban hành cũng như những điều chỉnh chính sách này theo thời gian.

Theo hướng hỗ trợ các ý tưởng khởi nghiệp

Ý tưởng khởi nghiệp là bước tiền đề để khởi nghiệp. Chính vì vậy, các địa phương cần phải nuôi dưỡng ý tưởng từ khi mới hình thành. Shane và cộng sự [160] đã dựa trên 08 công ty khởi nghiệp phát hiện ra rằng: các doanh nhân sẵn sàng lựa chọn công nghệ để phục vụ quá trình sản xuất và tinh thần khởi nghiệp dựa trên thông tin về cơ hội cũng như hỗ trợ của chính phủ đối với ý tưởng khởi nghiệp đó. Cùng với quan điểm trên, trong nghiên cứu của Boudreaux [83] đã sử dụng dữ liệu từ 25 nước và sử dụng biểu đồ phân tán, hệ số tương quan và hồi quy OLS để đánh giá hoạt động hỗ trợ ý tưởng khởi nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ sử dụng mô hình OLS giản đơn, không dùng các dữ liệu không gian nên chưa thể đánh giá mức độ thay đổi của các biến theo thời gian.

Trong nghiên cứu của Dimov [97], McMullen và Shepherd [142] thông qua tổng hợp các nghiên cứu trước đây cũng đã khẳng định vai trò của chính phủ trong việc hỗ trợ ý tưởng khởi nghiệp đó là cung cấp thông tin, hỗ trợ, tư vấn… để các doanh nhân có được góc nhìn toàn diện về ý tưởng khởi nghiệp. Từ đó đưa ra quyết định có thực hiện ý tưởng đó hay không nhằm tránh những rủi ro không cần thiết, cái mà nhiều doanh nhân không nhận thức được những khó khăn và nguy cơ xảy ra đối với những ý tưởng đó. Các nghiên cứu này tập trung tại các nước phát triển, nơi mà điều kiện kinh tế tốt, các dịch vụ hỗ trợ nhiều mà chưa nghiên cứu tới những nước đang phát triển, những nơi điều kiện khó khăn, nguồn lực nhà nước phải sử dụng vào nhiều nhiệm vụ quan trọng khác.

Theo hướng xây dựng và liên kết các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp

Basso và cộng sự [75] đã thực hiện nghiên cứu về hệ sinh thái khởi nghiệp ở 08 nước Nam Âu. Bằng phương pháp thống kê mô tả, nghiên cứu đã chỉ ra các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp bao gồm: doanh nghiệp lớn, các trường đại học, các tổ chức hỗ trợ, các tổ chức tài trợ, các tổ chức nghiên cứu, các nhà cung cấp dịch vụ. Mỗi một tổ chức có những vai trò và chức năng khác nhau. Do vậy, để có thể phát huy được lợi thế so sánh của các tổ chức cần phải có biện pháp liên kết giữa các tổ chức này. Các thành viên của hệ sinh thái có thể tạo ra nhiều lợi ích khi cùng làm một nhóm hơn là thực hiện một mình và việc hợp tác trong hệ sinh thái được kỳ vọng sẽ mở ra hiệu quả vượt trội [170]. Tuy nhiên, các giải pháp đưa ra vẫn mang tính chung chung như tập trung vào thế mạnh địa phương, xây dựng chiến lược phù hợp, tập trung vào những ý tưởng kinh doanh khả thi… mà chưa chỉ rõ được những giải pháp riêng cho từng quốc gia cũng như điều kiện để thực hiện các giải pháp đó. Chính phủ với vai trò rất lớn trong việc tạo ra môi trường phát triển nhằm mang lại lợi ích lâu dài cho các DNKN. Trong nghiên cứu của Fredrickson [105] được dựa trên từ các lý thuyết về động lực cũng như vai trò của các thành phần trong hệ sinh thái đã làm rõ vai trò của chính phủ là cầu nối giữa các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp thông qua những chính sách hỗ trợ dành riêng cho từng tổ chức, xây dựng cơ chế phối hợp, các chương trình liên kết để phát huy tốt nhất những thế mạnh của các tổ chức trong hệ sinh thái. Thêm vào đó, các nghiên cứu Schiffer và cộng sự [155], Watson và cộng sự [178] cũng chỉ rõ sự cần thiết phải kết nối giữa các tổ chức trong hệ sinh thái. Các nghiên cứu này đã đề xuất một số chính sách để liên kết các tổ chức trong hệ sinh thái như tạo các trung tâm khởi nghiệp nơi mà các DNKN tìm được các tổ chức phù hợp, ký hợp đồng liên kết và chuyển giao giữa các tổ chức… Nhà nước sẽ là chủ thể trung gian điều phối các mối quan hệ này, đưa ra những chính sách hỗ trợ kịp thời để duy trì và phát triển mạng lưới hệ sinh thái khởi nghiệp. Tuy nhiên trong các nghiên cứu này mới dừng lại trong việc xây dựng mô hình liên kết chung chung, chủ yếu tại các nước phát triển mà chưa có những nghiên cứu cụ thể về mô hình liên kết, chính sách liên kết cho từng quốc gia cụ thể, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển.

Theo hướng hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp

Các DNKN là đối tượng tiên phong trong việc áp dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh nên sẽ gặp rất nhiều rủi ro. DNKN có vai trò rất lớn đối với nền kinh tế: tạo bước đột phá trong nền kinh tế, tạo mô hình kinh doanh mới…. Vì vậy, cần phải có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp. Trong nghiên cứu của Schiffer và cộng sự [155] đã phân tích chỉ ra các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào các chương trình và dự án cụ thể mà không có một góc nhìn bao quát với nhiều đối tượng và không gian rộng, như vậy, rất khó để các nhà hoạch định chính sách có thể đánh giá chính xác mức độ hiệu quả của các chính sách đó để đưa ra những điều chỉnh trong tương lai. Bằng việc sử dụng 2 phương pháp hồi quy cơ bản và hồi quy mở rộng với số liệu lấy từ 42 quốc gia nghiên cứu đã làm rõ vai trò của các chính sách hỗ trợ phát triển các DNKN về tài chính, cơ sở hạ tầng, tỷ giá hối đoái… mà chưa làm rõ được sự ảnh hưởng của các chính sách cụ thể đối với từng giai đoạn phát triển của các DNKN.

Verheul và cộng sự [176] nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 1972 đến năm 1998 tại 23 quốc gia đã tập trung nghiên cứu chính sách hỗ trợ về mặt tài chính như thành lập các quỹ hỗ trợ DNKN, các quỹ đầu tư mạo hiểm, hỗ trợ về lãi suất từ phía ngân hàng. Điều này cũng được chỉ ra trong nghiên cứu của Pretorius và cộng sự [152]. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đề cập nhiều vai trò của chính phủ trong việc xây dựng chính sách tổng thể, cơ chế phối hợp giữa DNKN với các tổ chức tài chính mà chỉ tập trung đánh giá việc cung cấp vốn cho DNKN. Trong nghiên cứu của Leffler và Svedberg [133], Paco và cộng sự [151], O’Connor [148], GEM [107] đã chỉ rõ vai trò của giáo dục đối với hoạt động khởi nghiệp và sự cần thiết hỗ trợ giáo dục cho các DNKN. Điều này giúp các DNKN vượt qua được những khó khăn, khai thác tốt các tiềm năng, đặc biệt áp dụng thành công KHCN mới vào những ý tưởng kinh doanh mới. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ tập trung vào vai trò của giáo dục mà chưa đề cập đến những vấn đề quan trọng khác như văn hóa, trình độ, điều kiện từng địa phương… Trong các nghiên cứu này mới đang tập trung vào hỗ trợ cung cấp kiến thức cho DNKN từ các tổ chức giáo dục nhưng chưa giải quyết được tận gốc của vấn đề như: nguồn kinh phí, chính sách, cơ chế…. để các tổ chức giáo dục này có thể tiếp tục hỗ trợ cũng như đồng hành cùng các DNKN trong quá trình sản xuất kinh doanh.

Theo hướng hoạt động kiểm tra, giám sát công tác hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp

Kiểm tra, giám sát là thành phần rất quan trọng đối với quá trình thúc đẩy khởi nghiệp của mỗi địa phương, mỗi quốc gia. Điều này sẽ đảm bảo các đối tượng tham gia thực hiện đúng các quy định pháp luật, hạn chế thất thoát lãng phí nguồn lực của nhà nước. Nghiên cứu của Chowdhury và cộng sự [91] được thực hiện trong giai đoạn 2001 đến 2005 với 44 quốc gia đã sử dụng mô hình dữ liệu bảng để đánh giá các giả thuyết. Nghiên cứu cũng đề cập đến sự khác biệt về thời gian, bối cảnh địa lý và cho thấy những quốc gia ít tham nhũng, ít thủ tục hành chính và nhận nhiều hỗ trợ của cán bộ nhà nước có tác động tích cực đến việc thành lập các DNKN và ngược lại. Để có được kết quả trên là sự đóng góp rất lớn của hoạt động kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn kịp thời những sai phạm, điều chỉnh hành vi của các chủ thể liên quan, tạo điều kiện tốt nhất cho các DNKN. Tuy nhiên nghiên cứu cũng chưa chỉ ra được phương pháp, cách thức để thực hiện thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách hỗ trợ cho các DNKN. Cùng chung với quan điểm trên có các nghiên cứu Argandona [68], Anokhin và cộng sự [67], đã sử dụng dữ liệu từ 64 quốc gia, thời gian từ năm 1996 đến năm 2002 và sử dụng mô hình DEA. Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến vai trò kiểm tra, giám sát mà chưa nghiên cứu sâu về các hoạt động kiểm tra, giám sát như: nội dung, quy trình kiểm tra, giám sát, hình thức xử lý vi phạm… Do vậy, cần phải làm rõ các vấn đề trên để có góc nhìn toàn diện đối với hoạt động kiểm tra, giám sát. [67] [128]

Các nghiên cứu trong nước về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp

Tại Việt Nam cũng có khá nhiều các nghiên cứu về khởi nghiệp, tuy nhiên các nghiên cứu về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam đến nay chủ yếu chỉ dừng lại ở những nghiên cứu trong những trường hợp cụ thể mà chưa có nghiên cứu nào mang tính toàn diện với góc nhìn vĩ mô và chủ yếu theo các hướng nghiên cứu như sau:

Theo hướng xây dựng và ban hành chính sách thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp

Để có hệ thống các chính sách thúc đẩy khởi nghiệp tại Việt Nam từ năm 2015 phải kể đến các nghiên cứu của nhóm biên soạn Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo 2025” [44] trong đó đáng lưu ý có nghiên cứu của Phan Hoàng Lan [17] đã sử dụng dữ liệu từ năm 2012 đến năm 2016, với phương pháp thống kê mô tả đã đặt ra vấn đề quan trọng đối với thúc đẩy khởi nghiệp, coi thúc đẩy khởi nghiệp là nhu cầu cấp thiết đối với việc Nhà nước tham gia hỗ trợ và thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp. Nghiên cứu đã chỉ ra nhóm cơ chế, chính sách cần thiết cho khởi nghiệp gồm: đầu tư cho khởi nghiệp, hỗ trợ tài chính cho khởi nghiệp, đào tạo nâng cao năng lực cho khởi nghiệp, cơ sở hạ tầng cho khởi nghiệp, kết nối cộng đồng hệ sinh thái khởi nghiệp, hỗ trợ truyền thông cho khởi nghiệp. Trong đó, khẳng định để thúc đẩy khởi nghiệp vai trò của Nhà nước là vô cùng cần thiết. Nghiên cứu của VCCI [31] đã phân tích việc xây dựng và thực hiện chính sách thúc đẩy khởi nghiệp tại Việt Nam, nghiên cứu khẳng định các DNKN khi thành lập sẽ gặp rất nhiều rủi ro, vì vậy rất cần chính sách hỗ trợ về đào tạo, thủ tục hành chính, xác nhận quyền sở hữu… Để có được những hỗ trợ này trước hết phải xuất phát từ Chính quyền địa phương và sử dụng nguồn lực địa phương để làm nền tảng cho những hỗ trợ. Vì vậy, việc xây dựng chính sách hỗ trợ cần được dựa trên tình hình phát triển của thị trường cũng như cần phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của từng địa phương. Tại hội thảo “Rào cản khởi nghiệp” [62], các nghiên cứu cũng đã chỉ ra những rào càn mà DNKN gặp phải khi triển khai cần nhà nước nỗ lực tháo gỡ để thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động khởi nghiệp. Hoàng Thị Hải Yến [64] đã đưa ra 5 tiêu chí lớn để đánh giá một chính sách thúc đẩy khởi nghiệp thành công đó là: khích lệ sáng tạo và tinh thần kinh thương; hỗ trợ DNKN; kết nối các thành phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp; không tạo ra các rào cản pháp lý và hành chính cho khởi nghiệp; hỗ trợ khởi nghiệp hội nhập thị trường quốc tế. Đây là căn cứ khoa học để các nhà hoạch định xây dựng chính sách hỗ trợ cho DNKN phù hợp với tình hình thực tế hơn, tháo gỡ các khó khăn cho DNKN. Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ đề cập một cách tổng quát về việc ban hành chính sách mà chưa đề cập cụ thể cho từng lĩnh vực và điều kiện để thực hiện các chính sách đó.

Theo hướng hỗ trợ phát triển các ý tưởng khởi nghiệp

Để có thể đưa ra được giải pháp hỗ trợ ý tưởng khởi nghiệp tốt nhất, trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Linh và cộng sự [22] đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Kiên Giang. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng các biến độc lập như: đặc điểm tính cách, thái độ đối với hành vi kinh doanh, nhận thức kiểm soát, ý kiến của người xung quanh, địa vị xã hội của chủ doanh nghiệp. Biến trung gian là Niềm đam mê và biến phụ thuộc là ý định khởi nghiệp. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình SEM, với số liệu điều tra từ 459 sinh viên từ năm thứ 2, 3 và 4. Kết quả nghiên cứu cho thấy đam mê ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp, trong đó thái độ tính cách, môi trường khởi nghiệp, ý kiến người xung quanh có tác động tích cực đến đam mê khởi nghiệp. Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu này được thực hiện ở lứa tuổi rất trẻ đó là đối tượng sinh viên, thêm vào đó đối tượng này có nền tảng kiến thức tương đối tốt. Trong khi đó cũng có những đối tượng khác cũng có rất nhiều ý tưởng khởi nghiệp, đặc biệt là những người lớn tuổi hoặc những người đang sinh sống tại các vùng sâu vùng xa nơi mà có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn trong nghiên cứu này chưa đề cập đến.

Ý tưởng khởi nghiệp được hình thành từ các vấn đề cuộc sống dựa trên sự phát triển của khoa học công nghệ. Theo nghiên cứu của Nguyễn Phúc Nguyên và cộng sự [27] đã tiến hành điều tra 115 hộ kinh doanh cá thể và 42 doanh nghiệp vừa và nhỏ, với việc sử dụng mô hình EFA đã cho rằng các ý tưởng khởi nghiệp nếu không được tìm hiểu một cách kỹ lưỡng, với những đóng góp và tư vấn của các chuyên gia trong cùng lĩnh vực thì rất dễ thất bại. Để nuôi dưỡng và khuyến khích ý tưởng khởi nghiệp cũng như khuyến khích thực hiện ý tưởng khởi nghiệp cần được dựa trên những hỗ trợ cần thiết như: hỗ trợ thông tin, hỗ trợ pháp luật, hỗ trợ nghiên cứu thử nghiệm, hỗ trợ chia sẻ kinh nghiệm…Thông qua các hỗ trợ này, các nhà khởi nghiệp có thể xác định xem ý tưởng khởi nghiệp có tính khả thi hay không. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ đánh giá các yếu tố quyết định sự thành công của khởi nghiệp từ phía doanh nghiệp mà chưa có góc nhìn hay đánh giá từ phía nhà quản lý.

Theo hướng xây dựng và liên kết các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp

Phan Hoàng Lan [17] tiếp cận dựa trên chính sách thúc đẩy khởi nghiệp cần tạo điều kiện để hình thành các phần tử trong hệ sinh thái, tiếp đó là tạo cơ hội liên kết và phát triển các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp thông qua việc cung cấp nền tảng pháp lý và hạ tầng. Nghiên cứu đã chỉ ra được vòng đời hệ sinh thái khởi nghiệp bao gồm các giai đoạn: giai đoạn kích hoạt; giai đoạn toàn cầu hóa; giai đoạn thu hút; giai đoạn hội nhập. Các tổ chức thuộc hệ sinh thái bao gồm: các công ty lớn, các trường đại học, các tổ chức cung cấp vốn, các nhà cung cấp dịch vụ, các tổ chức nghiên cứu và các tổ chức hỗ trợ. Để có thể liên kết các tổ chức này với nhau cần dựa trên một số yếu tố như sau: (i) lợi ích: tất cả các đối tác/các tổ chức đều mong đợi lợi ích cho mình; (ii) chi phí giao dịch: kết quả đạt được của các hợp tác bao gồm các chi phí liên quan; (iii) sức mạnh tổng hợp: các đối tác có thể tạo ra tiềm năng mới cho tất cả mọi người/mọi tổ chức bằng cách sử dụng sức mạnh của họ.

Trong nghiên cứu của Phạm Trần Lê [18] thông qua việc nghiên cứu các hoạt động thúc đẩy khởi nghiệp đã cho rằng các DNKN cần có một môi trường đặc biệt để có thể tồn tại và phát triển, mạng lưới hệ sinh thái khởi nghiệp trong đó yếu tố trường đại học là một trong những mắt xích quan trọng biến những công nghệ từ ý tưởng trở thành hiện thực. Thêm vào đó, nghiên cứu cũng chỉ ra cần có sự liên kết giữa trường đại học với các tổ chức khác như Ngân hàng, tổ chức tài trợ, các dịch vụ hỗ trợ… để các DNKN tìm được đối tác, giảm thời gian và công sức phát triển và đưa sản phẩm ra thị trường. Cùng chung với nhận định trên, nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy và Nguyễn Ngọc Huyền [47] cũng khẳng định quá trình khởi nghiệp rất cần có hệ sinh thái khởi nghiệp, nơi mà những người khởi nghiệp có được những hỗ trợ cần thiết để biến ý tưởng thành hiện thực. Tuy nhiên các nghiên cứu này chưa chỉ ra được vai trò của Nhà nước là chủ thể trung gian trong việc kết nối giữa các thành phần trong hệ sinh thái cũng như cơ chế và hình thức hợp tác giữa các bên liên quan.

Các DNKN thường gặp rất nhiều rủi ro như rủi ro về công nghệ, rủi ro về vốn, rủi ro về con người, chiến lược kinh doanh,…Vì vậy cần rất nhiều hỗ trợ từ bên ngoài, đặc biệt là từ chính quyền địa phương. Trong nghiên cứu của Hoàng Xuân Hòa, Phạm Thị Hồng Yến [11] đã tổng hợp và phân tích một số chính sách hỗ trợ đối với các DNKN. Thông qua việc phân tích những ưu điểm cũng như những bất cập chủ yếu còn tồn tại trong quá trình thực hiện các chính sách như: vườn ươm công nghệ còn kém, kiến thức kinh doanh còn nhiều hạn chế, chậm trễ trong quá trình triển khai các chính sách hỗ trợ… Tuy nhiên nghiên cứu lại chưa chỉ rõ được những hạn chế cụ thể và những ảnh hưởng của những hạn chế này đối với sự phát triển của DNKN. Bên cạnh đó, các nghiên cứu của Nguyễn Phúc Nguyên và cộng sự [27], Lê Văn Vàng [59], Hoàng Xuân Hòa, Phạm Thị Hồng Yến [11] đã đề cập đến vấn đề hỗ trợ về vốn thông qua các tổ chức phi chính phủ, các quỹ đầu tư mạo hiểm, các nhà đầu tư thiên thần. Ngoài ra, các nghiên cứu này cũng đề xuất những giải pháp sử dụng NSNN để hỗ trợ vốn cho DNKN như cho vay ưu đãi về lãi suất, xây dựng các chương trình cho vay đa dạng để phù hợp với nhiều DNKN. Các nghiên cứu trên mới dừng lại trong việc nghiên cứu các chính sách cụ thể, chưa mang tính bao quát, thêm vào đó, các chính sách hỗ trợ DNKN chủ yếu kết hợp với DNNVV mà chưa có nhiều chính sách dành riêng cho DNKN nên khó khăn trong việc triển khai và áp dụng các chính sách này.

Khi nghiên cứu về các chính sách hỗ trợ DNKN tại Việt Nam, Nguyễn Văn Trưởng [54] đã sử dụng dữ liệu từ năm 2013 đến năm 2017 đối với việc thực hiện các chính sách như: chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách hỗ trợ gián tiếp thông qua mô hình vườn ươm và một số chính sách khác như: hỗ trợ cơ sở hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính. Nghiên cứu dừng lại trong việc thống kê các hoạt động hỗ trợ, chưa có nhiều đánh giá sâu về tác động của các chính sách này. Cùng hướng nghiên cứu đó, Nguyễn Mạnh Quân [34] đã chỉ ra những hạn chế trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ đó là: hành lang pháp lý cho hoạt động khởi nghiệp chưa đầy đủ, Việt Nam chưa thực sự có văn hóa khởi nghiệp, môi trường kinh doanh còn rất nhiều điểm nghẽn trong sự phối hợp các bộ phận cấu thành hệ sinh thái và tiếp cận vốn tại các quỹ đầu tư mạo hiểm…. Đặc biệt hiện nay hoạt động tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của của các DNKN cũng gặp rất nhiều khó khăn, trong nghiên cứu của Nguyễn Viết Lợi [20] đã sử dụng mô hình Probit với việc điều tra từ hơn 135 DNKN đã chỉ ra rằng: các DNKN có lượng vốn đầu tư ít, không có tài sản thế chấp, lợi nhuận ban đầu không cao, các thủ tục hành chính khi nhận hỗ trợ tài chính cũng còn nhiều rườm rà phức tạp, thêm vào đó là nguồn cung còn hạn chế và không đa dạng… Tất cả điều này đã cản trở rất nhiều đến khả năng tiếp cận tài chính ưu đãi của DNKN. Điều này cũng được đề cập đến trong các nghiên cứu của Phạm Trần Lê [18], Lương Ngọc Minh [21], Nguyễn Hùng [13].

Đối với nghiên cứu của Vũ Thị Vân và Vũ Hải Thúy [58] dựa trên đánh giá và phân tích thực trạng khởi nghiệp Việt Nam từ năm 2016 đến năm 2019 đã chỉ ra vai trò của các chính sách hỗ trợ đối với các DNKN, các khó khăn và vướng mắc mà các DNKN gặp phải. Thêm vào đó, nghiên cứu cũng chỉ ra giải pháp để thực hiện thành công các chính sách đó là có góc nhìn toàn diện sau khi có những hỗ trợ cần thiết, đánh giá khả năng thành công của các DNKN và đưa ra được quyết định về vấn đề tiếp tục thực hiện hỗ trợ đối với DNKN đó hay không. Tuy nhiên nghiên cứunày chưa chỉ ra được nguồn lực, cơ quan, chính sách để thực hiện hỗ trợ ý tưởng khởi nghiệp cũng như hỗ trợ, khuyến khích hình thành các DNKN trong xã hội.

Công tác thanh tra, kiểm tra luôn là vấn đề quan tâm của các cấp chính quyền, các nhà quản lý. Tại nghiên cứu của Nguyên Lâm [28] đã thống kê và mô tả hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với các DNKN trong giai đoạn từ năm 2018, 2019, 2020 mà tập trung ở đây đó là tình hình sử dụng các nguồn lực được nhà nước hỗ trợ như về vốn, cơ sở hạ tầng, các thủ tục pháp lý… Trong nghiên cứu cũng đã chỉ ra những vấn đề tồn tại cần khắc phục như các cơ quan chức năng thanh, kiểm tra không công nhận kết quả làm việc của nhau, thời gian thanh tra kiểm tra còn kéo dài, nội dung thanh tra, kiểm tra không rõ ràng… Trong quá trình thanh tra đã phát hiện nhiều sai phạm như giấy tờ, chứng từ không đầy đủ, sử dụng nguồn lực hỗ trợ không hiệu quả, gây thất thoát lãng phí. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đưa ra các giải pháp cụ thể cũng như kiến nghị đối với từng loại hình DNKN để có biện pháp thanh tra, kiểm tra tốt hơn.

Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp

Khởi nghiệp đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế tri thức hiện nay nên nhiều nghiên cứu nước ngoài đã sớm tập trung tìm các phương án tốt nhất để có thể thổi bùng niềm đam mê khởi nghiệp trong mỗi cá nhân nói riêng và quốc gia mình nói chung. Một trong những chìa khóa để làm được điều này là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp: vừa tìm ra được những điểm mang tính đặc thù cho mỗi khu vực, mỗi quốc gia, vừa tìm ra được những yếu tố quan trọng giúp thực hiện các giải pháp trọng điểm trong bối cảnh nguồn lực còn nhiều hạn chế.

Trong nghiên cứu của Baptista và Leitão [70] đã sử dụng mô hình dữ liệu chéo với 5247 quan sát với các biến độc lập bao gồm vốn con người, môi trường làm việc, đặc điểm công việc, giới tính, độ tuổi để chỉ ra các yếu tố này ảnh hưởng đến khả năng khởi nghiệp, đặc biệt là đối với những đối tượng khởi nghiệp có trình độ học vấn cao. Những đối tượng này dễ dàng tiếp cận tốt công nghệ mới cũng như nắm bắt được xu hướng của thị trường, từ đó đưa ra các sản phẩm đáp ứng tốt thị hiếu của khách hàng.

Đối với nghiên cứu của Baringer và Ireland [71] đã tiến hành điều tra 256 DNKN, tác giả đã sử dụng mô hình SEM để đánh giá các yếu tố: văn hóa địa phương, các tổ chức trong hệ sinh thái, vốn con người, môi trường kinh doanh, vay vốn tín dụng, nhận thức bản thân đến khả năng phát triển của DNKN. Nghiên cứu đã cho thấy các yếu tố này đều có tác động cùng chiều với biến phụ thuộc là sự phát triển của DNKN. Tuy nhiên trong nghiên cứu này chưa đề cập đến các biến trung gian trong mô hình, hay các tác động trực tiếp và gián tiếp của các biến trung gian đến khả năng phát triển của DNKN.

Trong nghiên cứu của Khan và cộng sự [122] đã sử dụng mô hình Probit với việc điều tra 3413 người về ý định khởi nghiệp với các yếu tố được đưa vào nghiên cứu đó là: Vốn tri thức, Kiến thức và kỹ năng, Cơ hội kinh doanh, Mối quan hệ với các doanh nhân khác, Nhà đầu tư thiên thần, Trình độ học vấn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tất cả các biến đưa vào mô hình đều có ý nghĩa. Nghiên cứu này đã tập trung chỉ ra vai trò của vốn con người, mối quan hệ trong hệ sinh thái khởi nghiệp và khả năng huy động vốn đã ảnh hưởng rất lớn đến ý định khởi nghiệp.

Lanero và cộng sự [131] đã nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp cụ thể là: (1) Giáo dục khởi nghiệp (trình độ và nhận thức về khởi nghiệp); (2) Tính khả thi (xem xét tính khả thi của ý tưởng kinh doanh, môi trường kinh doanh, cơ hội kinh doanh cũng như triển vọng của sản phẩm); (3) Mong muốn khi khởi nghiệp; (4) Ý định khởi nghiệp. Để phân tích các yếu tố này, nghiên cứu sử dụng mô hình PLS SEM thông qua 1212 người được phỏng vấn. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các biến đưa vào mô hình đều có ý nghĩa thống kê và để có quyết định khởi nghiệp tốt thì dựa rất nhiều vào yếu tố môi trường kinh doanh cũng như vốn con người.

Các DNKN thường là các doanh nghiệp nhỏ, khả năng tiếp cận vốn thấp, đặc biệt là gặp nhiều rủi ro. Chính vì vậy, trong nghiên cứu của Gudmundson và cộng sự [109] để đánh giá các yếu tố đến khả năng thành công của các DNKN, nhóm tác giả đã sử dụng các biến độc lập đưa vào mô hình đó là môi trường kinh doanh, khả năng tiếp cận vốn, mối quan hệ với các tổ chức và doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh khởi nghiệp, sự tiến bộ của khoa học công nghệ, trình độ của chủ doanh nghiệp và các nhận thức rủi ro. Nghiên cứu đã sử tiến hành điều tra 365 doanh nghiệp khởi nghiệp và kết quả cho thấy các biến đều có tác động cùng chiều với khả năng thành công của doanh nghiệp.

MÃ ĐỀ TÀI 005

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *