Khởi nghiệp là chìa khóa quan trọng giúp kinh tế của một quốc gia phát triển nhanh, thậm chí nhanh chóng đuổi kịp các quốc gia phát triển hơn. Nhưng nguồn lực mỗi quốc gia có hạn, cần phải lựa chọn những nhân tố quan trọng, sức ảnh hưởng lớn để sử dụng nguồn lực được hiệu quả nhất. Dựa trên tổng quan các nghiên cứu trước đây tác giả đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp bao gồm:
Vốn con người
Để có thể thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp thì trước hết cần có phương hướng, công cụ, biện pháp cụ thể giúp các DNKN hoạt động hiệu quả. Một số nghiên cứu của Elkington và Hartigan [102], Graham [108] đã xem xét và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các DNKN, từ đó đề xuất các giải pháp giúp cải thiện tình hình cho các doanh nghiệp này. Một trong những yếu tố đã được đề cập rất nhiều, có ảnh hưởng tích cực đó là vốn con người. Cabrita và cộng sự [87] cho rằng, sự tương tác của các yếu tố vốn con người và sự sáng tạo là những khía cạnh chính ảnh hưởng đến quá trình khởi nghiệp. Coleman [93] và Hoffman [113] đã nghiên cứu toàn diện vai trò của nguồn lực đối với DNKN và cho rằng nguồn nhân lực là yếu tố rất quan trọng để tạo ra lợi thế cạnh tranh thông qua việc tạo ra các sản phẩm có chất lượng với chi phí thấp, đặc biệt các DNKN tiên phong trong áp dụng khoa học công nghệ vào đời sống nên có những sản phẩm và dịch vụ có những ưu điểm vượt trội hơn so với các sản phẩm trên thị trường, khách hàng dễ dàng tiếp cận hơn. Vốn nhân lực là sự đúc kết của những kiến thức chủ yếu được cấu thành từ thói quen, thuộc tính, bí quyết và năng lực của mỗi con người để thực hiện quá trình lao động, tạo nên sự gia tăng giá trị kinh tế [163]. Loại vốn này có thể phát sinh từ ba nguồn gốc khác nhau: Hoạt động giáo dục, công tác đào tạo và đúc kết kinh nghiệm trong các tổ chức. Mối liên hệ giữa hiệu quả kinh doanh và các yếu tố vốn nhân lực còn bị chi phối bởi các yếu tố khác như kinh nghiệm chuyên môn hoặc sự khác biệt văn hóa [70]. Bên cạnh đó, nghiên cứu Subramony và cộng sự
[169] cũng đã đề cập đến vai trò của đội ngũ lãnh đạo trong hoạt động quản lý, trình độ chuyên môn và mối quan hệ với các đối tác của doanh nghiệp. Trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động, xu hướng thị trường luôn thay đổi, công nghệ sản xuất hiện đại nên đòi hỏi người lao động luôn phải học tập, nâng cao trình độ bản thân để đáp ứng yêu cầu công việc [174]. Như vậy các DNKN cần xây dựng phương án đào tạo cụ thể về thời gian học và nội dung học cho từng đối tượng: cán bộ quản lý, người lao động trực tiếp và lao động gián tiếp [113]. Thêm vào đó, đối với các địa phương cần đưa ra được các chính sách phát triển nguồn nhân lực để có thể thu hút được các DNKN như: xây dựng hệ thống đào tạo nguồn nhân lực, các chế độ chính sách cho người lao động, đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi tham gia sản xuất kinh doanh [70].Văn hóa địa phương và văn hóa doanh nghiệp
Xã hội luôn diễn ra sự phát triển của các giá trị văn hóa khác nhau, một số trong đó sẽ ảnh hưởng đến quyết định thành lập DNKN mới [172]. Hayton và cộng sự [111] cho rằng văn hóa và tinh thần khởi nghiệp kinh doanh có mối liên hệ với nhau. Các động lực khởi nghiệp kinh doanh được thực thi nhiều hơn trong các nền văn hóa mà ở đó có sự đề cao tính cá nhân, tôn trọng quyền bình đẳng và ít khoảng cách quyền lực. Do đó, sự khác biệt về văn hóa đóng một vai trò quan trọng trong việc công nhận tinh thần khởi nghiệp.
Tinh thần khởi nghiệp là một hiện tượng gắn liền với văn hóa của địa phương. Sự thành công của DNKN có đóng góp không nhỏ từ yếu tố văn hóa đó là tinh thần học hỏi, tính kiên nhẫn của nhà khởi nghiệp, các sản phẩm và dịch vụ phải phù hợp với đặc điểm văn hóa của khách hàng. Các quốc gia nào sở hữu đặc điểm văn hóa tích cực sẽ là nguồn động lực rất lớn cho các nhà khởi nghiệp đưa các ý tưởng khởi nghiệp. [109]
Trong giai đoạn ban đầu, các DNKN thường gặp rất nhiều khó khăn, nếu chủ doanh nghiệp không có tinh thần vững chắc, sẵn sàng vượt qua khó khăn và có sự động viên kịp thời của người thân thì sẽ nản lòng, dẫn đến thực hiện ý tưởng khởi nghiệp rất khó thành công. Theo nghiên cứu của Hurley và Hult [114] đã nhấn mạnh vai trò của văn hóa đối với thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp. Tác động đặc biệt của các doanh nhân thành công, những người đã truyền bá quá trình học tập và kiến thức chuyên môn của họ thông qua mạng xã hội và sự công nhận của các nhà lãnh đạo đối với họ, sẽ tạo ra một hình ảnh tích cực về các hoạt động tự doanh và khởi nghiệp. Ở những địa phương hay quốc gia mà hành vi kinh doanh được coi là mong muốn và đáng quý, thì càng có nhiều người có động lực để khai thác các cơ hội kinh doanh trong môi trường xung quanh họ [158]. Những địa phương có được sản phẩm mới, có tính cạnh tranh cao trên thị trường thì các nhà khởi nghiệp cần có trong người tố chất luôn luôn học hỏi, tìm kiếm cái mới, không ngại khó khăn… mà để hình thành được điều đó, nó nằm ngay trong chính tiềm thức của mỗi người và được xuất phát từ chính văn hóa của địa phương [106]. Do vậy, các địa phương cần tuyên truyền, biểu dương, động viên kịp thời các nhà khởi nghiệp, đặc biệt là phái nữ những người thường phải hy sinh thời gian cho gia đình và con cái, dần dần coi yếu tố khởi nghiệp là một nét đặc trưng trong văn hóa của người dân. [114]
Khả năng tiếp cận tài chính
Khi nguồn vốn dễ dàng được tiếp cận và sẵn có hơn, nhiều nhà sáng lập khởi nghiệp được tạo điều kiện để đạt được sự hỗ trợ về tài chính, từ đó dẫn đến số lượng người sẵn sàng khởi nghiệp kinh doanh sẽ cao hơn [158]. Amit và cộng sự [66] cũng đã chỉ ra rằng, các nguồn tài chính sẵn có sẽ đóng vai trò kích thích sự cạnh tranh giữa các nhà đầu tư để cung cấp vốn cho các DNKN. Nguồn vốn tài chính của DNKN thường đến từ tín dụng hoặc vốn tự có [139]. Tuy nhiên các DNKN, đặc biệt là các DNKN trong lĩnh vực nông nghiệp thường gặp rất nhiều hạn chế trong tiếp cận nguồn vốn từ các tổ chức tài chính. Vì vậy, nguồn vốn của DNKN được hình thành chủ yếu vào vốn chủ sở hữu và nợ. Pretorius và Shaw [152] đã chia nguồn lực tài chính của DNKN thành nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài. Các DNKN đặc biệt trong giai đoạn đầu thường tiếp cận tài chính bên ngoài là rất khó khăn vì không có tài sản đảm bảo cũng như mối quan hệ với thị trường tài chính. Do vậy, nguồn vốn của DNKN chủ yếu dựa vào nội lực, tuy nhiên nguồn vốn này thường không đủ để tồn tại và phát triển, nhất là khi phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường.
Để có thể thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp, chính quyền địa phương cần phải giải quyết vấn đề khó khăn của việc tiếp cận nguồn vốn bên ngoài mà các DNKN đang phải đối mặt [180]. Đứng trước thực trạng này, sử dụng nguồn NSNN là một biện pháp cần thiết giúp các DNKN tiếp cận được nguồn vốn tốt hơn, bằng cách hỗ trợ lãi suất vay, bão lãnh tín dụng, giảm các thủ tục hành chính… Ngoài ra, nhiều địa phương khuyến khích các thành phần khác trong nền kinh tế chung tay giúp đỡ các DNKN như các nhà đầu tư thiên thần, vườn ươm doanh nghiệp có thể giúp đỡ về mặt tài chính, chia sẻ kinh nghiệm kinh doanh để DNKN có thể tồn tại và phát triển.
Mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp
Các DNKN thường hoạt động trong tình trạng không đầy đủ, không lường trước được rủi ro của dự án nên khả năng được các ngân hàng cho vay tài chính là rất thấp [101]. Thêm vào đó, các thủ tục hành chính rất phức tạp, để giải quyết các vấn đề này cũng cần phải có những chuyên gia, những tổ chức chuyên thực hiện công việc này để giảm bớt thời gian và công sức. Ngoài ra, nhiều DNKN khi thành lập, chỉ tập trung phát triển sản phẩm hoặc dịch vụ mà thiếu rất nhiều về kỹ năng quản trị, các mối quan hệ cần thiết giải quyết các vấn đề phát sinh [108]. Chính vì vậy, rất cần liên kết các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp để có thể hỗ trợ DNKN một cách toàn diện.
Hiện nay, các trường đại học thành lập các trung tâm khởi nghiệp. Đây sẽ là nơi biến các ý tưởng từ lý thuyết trở thành hiện thực. Dưới sự bảo lãnh của các trường, các tổ chức tài chính, các nhà đầu tư thiên thần, quỹ đầu tư vốn mạo hiểm sẽ sẵn sàng đầu tư trong khi nếu để DNKN phát triển độc lập thì rất khó tiếp cận tài chính. Thêm vào đó, các tổ chức hỗ trợ cũng sẵn sàng cung cấp các dịch vụ như giải quyết các thủ tục hành chính, các giấy phép để DNKN được thành lập và hoạt động. Ngoài ra, các tổ chức tài trợ cũng sẵn sàng có những cố vấn cần thiết để DNKN có những lựa chọn phù hợp với tình hình thực tế và thương mại hoá các sản phẩm mới áp dụng công nghệ hiện đại. [143]
Với sự phát triển của mạng lưới của các tổ chức hỗ trợ các DNKN, các công ty lớn với tiềm lực về tài chính, kinh nghiệm quản lý, thị trường sẵn có, đặc biệt là có rất nhiều mối quan hệ sẵn sàng giúp đỡ DNKN phát triển bền vững. Đây là những liên kết hai bên cùng có lợi, các công ty lớn tìm kiếm được các sản phẩm dịch vụ mới để phát triển mô hình kinh doanh của mình, đối với DNKN có được nền tảng vững chắc, đó là điểm tựa cho doanh nghiệp vượt qua được những khó khăn ban đầu. [115]
Một điểm rất quan trọng trong mối liên kết giữa các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp đó là tận dụng được những thế mạnh của từng tổ chức, tránh tình trạng lãng phí nguồn lực cũng như hoạt động chồng chéo giữa các tổ chức, tạo nên sự chuyên môn hóa giữa các tổ chức cũng như định hướng các DNKN phát triển theo xu hướng toàn cầu hóa [92].
Như vậy, vai trò của chính quyền địa phương ở đây là rất lớn, tạo cơ chế, chính sách nhằm liên kết các tổ chức trong hệ sinh thái. Ngoài ra còn có những hỗ trợ cần thiết để giúp các tổ chức phát huy được thế mạnh, từ đó các DNKN có được những môi trường tốt nhất để có thể khởi nghiệp.
Môi trường kinh doanh
DNKN là đối tượng tiên phong trong việc áp dụng khoa học tiên tiến vào thực tế, tạo nên các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng tốt cho nhu cầu của khách hàng với tỷ suất lợi nhuận cao, đây sẽ là thành tố quan trọng tạo nên những đột phá phát triển kinh tế. DNKN không chỉ tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân mà còn có những đóng góp tích cực vào GDP của quốc gia [116] [129]. Chính vì lý do này mà chính phủ các nước cần tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi để các DNKN có điều kiện phát triển thông qua các chính sách khuyến khích hoạt động khởi nghiệp, đặc biệt là sự công bằng giữa các loại hình doanh nghiệp, các thành phần kinh tế. Đối với các nước đang phát triển, nguồn lực từ ngân sách còn nhiều hạn chế, chính phủ đã kêu gọi các thành phần kinh tế khác cùng chung tay giúp các DNKN vượt qua được những khó khăn.
Trong giai đoạn đầu, các DNKN sẽ gặp rất nhiều khó khăn như thiếu thông tin, thiếu vốn, thiếu kỹ thuật… Do vậy, doanh nghiệp cần rất nhiều sự hỗ trợ chính phủ, với sự hỗ trợ này các DNKN sẽ giảm bớt được được chi phí cũng như rủi ro có thể gặp phải. Ngoài ra, các chính sách được coi như một kế hoạch chi tiết nhằm điều chỉnh các hoạt động khởi nghiệp theo mục tiêu đã đề ra. Tuy nhiên chính sách hỗ trợ cần được ban hành kịp thời, rõ ràng, đồng bộ tránh tình trạng chồng chéo gây thất thoát lãng phí nguồn lực, đặc biệt đảm bảo sự công bằng giữa các thành phần kinh tế. Trong quá trình phát triển, các chính sách hỗ trợ cũng cần được rà soát, điều chỉnh để phù hợp trong các giai đoạn khác nhau [150]. Chính quyền địa phương cũng cần kiểm soát chặt chẽ, đánh giá hiệu quả hoạt động hỗ trợ, tránh tình trạng lợi dụng chính sách mà gây ra những tác động tiêu cực đến sự phát triển chung.
MÃ ĐỀ TÀI 005
