Nghiên cứu về các nhân tố vi mô ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của ngân hàng thương mại
Nghiên cứu đa quốc gia
Gropp và Heider (2009) phân tích các nhân tố ảnh hưởng tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các 200 NHTM lớn của Hoa Kỳ và châu Âu trong giai đoạn 1991 đến 2004. Nghiên cứu sử dụng hồi quy dữ liệu bảng (FEM, REM) và hồi quy xu hướng tổng quát (GMM) để phân tích dữ liệu nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), tỷ lệ nợ xấu tác động ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM của Hoa Kỳ và châu Âu, việc gia tăng tỷ lệ chi trả cổ tức cho thấy tỷ lệ nợ trong cấu trúc vốn của các NHTM cao hơn. Các NHTM đã tài trợ cho sự tăng trưởng của bảng cân đối kế toán dựa trên tổng nợ không phải tiền gửi trong giai đoạn nghiên cứu. Điều này đã dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu tổng nợ phải trả của các ngân hàng. Tuy nhiên, tỷ trọng vốn chủ sở hữu của các NHTM vẫn không đổi.
Afolabi (2014) đánh giá vai trò của cấu trúc sở hữu NHTM đối với tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 244 NHTM trên 44 quốc gia thuộc khu vực Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ Latinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các NHTM do gia đình quản lý có xu hướng có tỷ lệ nợ thấp hơn. Quyền kiểm soát quá mức của chủ sở hữu kiểm soát có thể làm tăng đáng kể tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM. Các NHTM cần được quản lý tốt hơn vì tỷ lệ đòn bẩy tài chính quá mức là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính. ROA có mối tương ngược chiều với tỷ lệ đòn bẩy tài chính, trong khi quy mô NHTM có mối tương quan thuận chiều. Các cơ quan quản lý nên đưa tỷ lệ đòn bẩy vào chỉ tiêu giám sát giám sát ngân hàng nhằm tránh sử dụng đòn bẩy ngân hàng quá mức. Ngoài ra, nên bắt buộc ngân hàng có cơ cấu vốn tối ưu với sự cân bằng giữa tỷ trọng nợ (nợ phải trả) và vốn chủ sở hữu.
Anarfo (2015) nghiên cứu tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM thuộc 37 quốc gia ở châu Phi cận Sahara giai đoạn 2000-2006. Kết quả hồi quy dữ liệu bảng cho rằng tỷ suất sinh lợi trên tài sản, quy mô, tài sản hữu hình/tài sản/ tài sản, cơ hội tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM ở châu Phi cận Sahara.
Al-Mutairi và Naser (2015) nghiên cứu cấu trúc vốn của các NHTM thuộc khối hợp tác vùng vịnh (GCC). Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu bảng của các NHTM cho giai đoạn 2001-2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng ROA và tính thanh khoản, tài sản hữu hình ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM khối GCC. Trong khi đó, cơ hội tăng trưởng lại tác động thuận chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính các NHTM thuộc GCC. Những phát hiện của nghiên cứu này đã chuyển tải hiểu biết sâu sắc về cấu trúc vốn của các ngân hàng GCC. Nó được kỳ vọng sẽ chỉ ra các nhân tố cần thiết cần thiết để xây dựng kế hoạch kinh doanh cũng như xác định các nhân tố đằng sau các quyết định tài chính và điều chỉnh quy mô nguồn vốn của các NHTM.
Umar và Sun (2016) nghiên cứu tỷ lệ đòn bẩy tài chính NHTM của các quốc gia thuộc khối các nền kình tế mới nổi (BRICS) giai đoạn 2007-2014. Trong số 188 ngân hàng này, 24 ngân hàng thuộc Brazil, 64 ngân hàng thuộc Nga, 62 ngân hàng thuộc Ấn Độ, 24 ngân hàng thuộc Trung Quốc và 14 ngân hàng thuộc Nam Phi. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đòn bẩy tài chính của NHTM cao là kết quả của thanh khoản thấp. ROA, quy mô NHTM càng lớn thì tỷ lệ nợ trong cơ cấu vốn của NHTM có xu hướng giảm. NHTM hoạt động ổn định thì tỷ lệ đòn bẩy tài chính giảm, đi kèm theo đó là sự gia tăng rủi ro nợ xấu. Các phát hiện của nghiên cứu này rất quan trọng đối với việc các nhà quản trị các ngân hàng và các nhà hoạch định chính sách tại các thị trường mới nổi. Việc giảm tỷ lệ đòn bẩy dẫn đến thanh khoản cổ phiếu của các ngân hàng thấp hơn.
Al-Harby (2019) so sánh các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 79 ngân hàng Hồi giáo và 139 ngân hàng chuyển đổi ở 16 quốc gia tại khu vực Trung Đông (MENA) giai đoạn 1989-2008. Phương pháp hồi quy xu hướng tổng quát (GMM) được sử dụng để kiểm định sự phù hợp của mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Nghiên cứu cho thấy rằng các ngân hàng Hồi giáo có tỷ lệ đòn bẩy thấp hơn và tính thanh khoản cao hơn và chúng không rủi ro hơn các ngân hàng thông thường. Kết quả hồi quy GMM cho thấy khả năng sinh lời, tài sản hữu hình, sự ổn định ngân hàng và tuổi ngân hàng có tương quan nghịch và đáng kể với đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các ngân hàng. Quy mô ngân hàng, thanh khoản và lạm phát có mối quan hệ thuận chiều và đáng kể với tỷ lệ đòn bẩy tài chính. Lá chắn thuế tác động thuận chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của ngân hàng Hồi giáo nhưng không ảnh hưởng đến các ngân hàng chuyển đổi. Những phát hiện của nghiên cứu thực nghiệm này sẽ có giá trị lớn đối với các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản trị các ngân hàng thương mại. Các NĐT và cổ đông có thể khai thác kết quả của nghiên cứu này để xác định giá thị trường hợp lý của cổ phiếu ngân hàng. Ngoài ra, nhà quản trị ngân hàng có thể dựa trên các phát hiện của nghiên cứu này để đưa ra các quyết định tài chính phù hợp với ngân hàng của họ.
Nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Âu
Caglayan và Sak (2010) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 25 ngân hàng tại Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 1992-2007. Nghiên cứu thực hiện giai đoạn của quá trình tái cơ cấu trong Khu vực Ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ, để tìm ra sự khác biệt giữa các nhân tố quyết định cấu trúc vốn sau khủng hoảng và giai đoạn tái cơ cấu đối với các ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ. Hồi quy dữ liệu bảng (FEM, REM) được sử dụng để phân tích dữ liệu nghiên cứu. Kết quả hồi quy cho thấy quy mô và giá trị số sách thị trường có tác động thuận chiều, trong khi tài sản hữu hình/tài sản và ROA có ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của NHTM. Các kết quả phân tích chỉ ra một số bằng chứng về kỳ vọng của lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết đại diện. Giordana và Schumacher (2012) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đòn bẩy trong lĩnh vực ngân hàng của Luxembourg giai đoạn quý 1/2003– quý 1/2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các khoản nợ ngoại bảng có những tác động ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính trong giai đoạn trước khủng hoảng và khủng hoảng. Tăng trưởng dư nợ, tăng trưởng tiền gửi và thanh khoản cũng cho kết quả tương tự. Có thể thấy điểm nhấn của nghiên cứu này là các khoản nợ ngoại bảng đóng một vai trò quan trọng đối với đòn bẩy. Các hoạt động ngoại bảng (bao gồm các khoản tín dụng đã cam kết, các khoản bảo lãnh và cam kết giao dịch trong tương lai) hạn chế sự tăng trưởng của đòn bẩy trong giai đoạn trước khủng hoảng, trong khi chúng làm tăng sự tăng trưởng của đòn bẩy trong thời kỳ khủng hoảng. Các ngân hàng có các khoản tín dụng cam kết hoặc bảo lãnh lớn sẽ có xu hướng hạn chế việc mở rộng danh mục cho vay của họ vì họ đã cam kết một lượng tín dụng đáng kể. Hơn nữa, các khoản nợ ngoại bảng lớn ngụ ý rằng trong thời kỳ khủng hoảng, các khoản tín dụng hoặc bảo lãnh đã cam kết được thực hiện, tạo ra mức tăng đòn bẩy lớn hơn so với khi các ngân hàng có ít cam kết hơn.
Nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Phi
Ayanda và cộng sự (2013) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 05 NHTM lớn của Nigeria giai đoạn 2006-2010. Kết quả hồi quy Pooled OLS cho thấy ROA, sự ổn định ngân hàng, tài sản hữu hình, cơ hội tăng trưởng, lá chắn thuế tác động ngược chi đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính. Quy mô ngân hàng, tỷ lệ chi trả cổ tức có vai trò động lực thúc đẩy gia tăng tỷ lệ nợ trong cấu trúc vốn của các NHTM của Nigeria. Shibru và cộng sự (2015) cho thấy rằng ROA, quy mô ngân hàng, tỷ lệ tài sản hữu hình/tài sản và tính thanh khoản là những nhân tố quan trọng quyết định đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các ngân hàng ở Ethiopia. Tăng trưởng và rủi ro của các ngân hàng không liên quan đến cấu trúc vốn của ngân hàng.
Kusi và cộng sự (2016) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 07 NHTM niêm yết tại Gana. Dữ liệu nghiên cứu được trích xuất từ BCTC của các NHTM giai đoạn 2005-2012. Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (hiệu ứng cố định – FEM; hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) được sử dụng để kiểm định
các giải thuyết nghiên cứu. Kết quả hồi quy dữ liệu bảng cho thấy ROA, quy mô, cơ hội tăng trưởng tác động thuận chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các ngân hàng niêm yết ở Ghana. Có mối quan hệ thuận chiều với tài sản hữu hình/ tài sản, lá chắn thuế và tỷ lệ cổ tức với tỷ lệ đòn bẩy tài chính.
Assfaw (2020) các nhân tố tác động đến quyết định sử dụng tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM tư nhân ở Ethiopia giai đoạn 2010-2018. Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (FEM, REM) được sử dụng trong nghiên cứu này. Nghiên cứu cho thấy rằng có mối quan hệ thuận chiều đáng kể giữa sự biến động thu nhập, quy mô của các ngân hàng và thuế với tỷ lệ đòn bẩy tài chính; trong khi ROA và tài sản hữu hình/ tài sản có ảnh hưởng ngược chiều đáng kể đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM. Các phát hiện thực nghiệm của nghiên cứu ngụ ý rằng hai lý thuyết cấu trúc vốn bao gồm lý thuyết đánh và trật tự phân hạng về cơ bản giải thích quyết định cấu trúc vốn của các ngân hàng thương mại tư nhân Ethiopia.
Các quốc gia đang phát triển tại Châu Á ngoài khu vực Đông Nam Á Sheikh và Qureshi (2017) phân tích tác động của các nhân tố đến tỷ lệ đòn bẩy
tài chính của 20 NHTM chuyển đổi và 05 ngân hàng hồi giáo tại Pakistan giai đoạn 2004-2014. Các kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng, cụ thể là Pooled, hiệu ứng cố định (FEM) và hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) được sử dụng để ước lượng mối quan hệ giữa tỷ lệ đòn bẩy tài chính và các biến đặc điểm tài chính của ngân hàng như khả năng sinh lời, quy mô, tăng trưởng, khả năng hữu hình và biến động thu nhập. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng ROA, tăng trưởng và tỷ lệ hữu hình/tài sản tác động ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính ngân hàng chuyển đổi, trong khi quy mô ngân hàng và sự biến động thu nhập có mối quan hệ thuận chiều. ROA, quy mô ngân hàng và tài sản hữu hình/tài sản ảnh hưởng trọng yếu đến cấu trúc vốn của các NHTM Hồi giáo.
Suntraruk và Xiaoxing (2017) nghiên cứu tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 25 NHTM niêm yết tại Trung Quốc giai đoạn 2003-2015. Kết quả hồi quy dữ liệu bảng chỉ ra rằng các NHTM có ROA cao hoặc những ngân hàng có tỷ lệ cổ phần thuộc sở hữu của các cổ đông lớn nhất thấp nhất ít có khả năng sử dụng vốn vay hơn. Quy mô của các NHTM niêm yết của Trung Quốc tăng lên cùng với tỷ lệ đòn bẩy tài chính. Kết quả của nghiên cứu này hỗ trợ các nhà quản lý của các ngân hàng thương mại niêm yết trong việc đưa ra quyết định về cơ cấu vốn phù hợp nhằm tối đa hóa hơn nữa giá trị của ngân hàng. Ngoài ra, cả NĐT và người gửi tiền sẽ có thể đánh giá mức độ an toàn của vốn ngân hàng sau khi hiểu được các nhân tố quyết định cấu trúc vốn, điều này sẽ giúp giảm rủi ro cho họ.
Abeysekara (2021) nghiên cứu cấu trúc vốn của các NHTM ở Sri Lanka giai đoạn 2017-2019 cho thấy tỷ lệ thuế thu nhập của các NHTM niêm yết đóng và lạm phát tác động thuận chiều đóng vai trò quan trọng như là nhân tố quyết định cấu trúc vốn của các NHTM ở Sri Lanka. ROA, quy mô ngân hàng tác động ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM niêm yết ở Sri Lanka. Kết quả hồi quy GMM chỉ ra rằng Lý thuyết trật tự phân hạng là lý thuyết phù hợp trong ngành ngân hàng Sri Lanka, trong khi có rất ít bằng chứng hỗ trợ lý thuyết đại diện và lý thuyết đại diện. Do đó, các ngân hàng nên cân nhắc các nhân tố một cách hợp lý để xác định cơ cấu vốn tối ưu của mình một cách thận trọng trước những cú sốc tiềm ẩn về quy định của cơ quan quản lý.
Các nghiên cứu tại Việt Nam, Thái Lan và một số quốc gia Đông Nam Á Kamil và Mansor (2014) nghiên cứu cấu trúc vốn của các NHTM ở Malaysia
giai đoạn 2002-2012. Kết quả nghiên cứu cho thấy ROA, quy mô ngân hàng, cơ hội tăng trưởng có mối quan hệ thuận chiều với tỷ lệ đòn bẩy tài chính đo lường tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu.
Tita và Robin (2016) sử dụng phân tích mô hình hồi quy dữ liệu bảng cho thấy ROA, tăng trưởng, lá chắn thuế tác động ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 21 NHTM niêm yết ở Indonesia giai đoạn 2007-2012. Quy mô ngân hàng, tài sản hữu hình có mối quan hệ thuận chiều với tỷ lệ đòn bẩy tài chính.
Astuti (2018) nghiên cứu phân tích tác động của các nhân tố đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 26 NHTM ở Indonesia giai đoạn 2014-2016. Hồi quy dữ liệu bảng (FEM, REM) được sử dụng trong nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu cho thấy thanh khoản, cơ hội tăng trưởng, ROA, quy mô ngân hàng tác động ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM. Trong khi đó rủi ro có mối quan hệ thuận chiều.
Tại Thái Lan: Allen và cộng sự (2013) xem xét các nhân tố quyết định cấu trúc vốn (tỷ lệ đòn bẩy tài chính) của 14 NHTM Thái Lan giai đoạn từ 1999 – 2008. Phân tích dữ liệu bảng với các hiệu ứng cố định, hiệu ứng ngẫu nhiên được sử dụng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ nợ xấu có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM. Quy mô ngân hàng, tài sản có rủi ro trên tài sản càng tăng thì tỷ lệ đòn bẩy tài chính càng cao. Sakunasingha và cộng sự (2018) khám phá các nhân tố quyết định quan trọng đến cấu trúc vốn của 14 NHTM nội địa của Thái Lan trong giai đoạn từ 2004-2014. Cấu trúc vốn được đo lường bằng tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM. Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng được sử dụng để phân tích kết quả nghiên cứu. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng ROA, thanh khoản tài sản, tỷ lệ thất nghiệp tác động ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính; trong khi đó, tăng trưởng có mối quan hệ ngược chiều với cấu trúc vốn của NHTM Thái Lan.
Tại Việt Nam: Ngô Hoàng Vũ (2020) cho rằng quy mô ngân hàng, giá trị tài sản thế chấp, tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng tài sản tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn của NHTM. Ngược lại, nhân tố tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, tài sản cố định, nhân tố các NHTM có vốn Nhà nước lớn tác động ngược chiều. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Phạm Mạnh Hùng (2016) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 22 NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2009- 2014 cho thấy ROA tác động ngược chiều đến tỷ lệ nợ/tài sản. Quy mô ngân hàng có mối quan hệ thuận chiều.
Tin và Diaz (2017) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 31 NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2009-2014. Kết quả hồi quy dữ liệu bảng cho thấy các ngân hàng lớn hơn có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao hơn, và điều này có thể là do lợi thế về danh tiếng và mạng lưới lớn hơn, khiến họ dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn bên ngoài. Cơ hội tăng trưởng cho thấy tác động ngược chiều của nó đối với nhóm ngân hàng nhỏ, với giả định rằng các ngân hàng nhỏ của Việt Nam chủ yếu sử dụng lợi nhuận để đầu tư hơn là vay từ các nguồn bên ngoài, điều này ủng hộ lý thuyết trật tự phân hạng.
Nghiên cứu về các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của ngân hàng thương mại
Nghiên cứu tại các quốc gia thuộc khối BRICS
Umar và Sun (2016) cho rằng các quy định mới của Basel III phải được thực hiện từ từ và dần dần để tránh xáo trộn thị trường chứng khoán. Các nhà quản trị ngân hàng phải cận trọng hơn bởi gần đến thời hạn thực hiện các quy tắc vốn mới chặt chẽ hơn. Hơn nữa, các loại chính sách khác nhau phải được áp dụng cho các ngân hàng có quy mô khác nhau, bởi vì, trong trường hợp ngân hàng nhỏ, thanh khoản cổ phiếu tăng lên dẫn đến đòn bẩy thấp hơn, nhưng trong trường hợp ngân hàng lớn, thanh khoản cổ phiếu tăng lên dẫn đến lạm dụng vốn cao hơn.
Nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển
Kusi và cộng sự (2016) đưa ra các khuyến nghị chính phủ Gana cần theo đuổi các chính sách giảm tỷ lệ mất giá đồng cedi, cũng như giảm mức lạm phát so với các nước phát triển. Vì hiệu quả hoạt động rất quan trọng trong việc xác định tỷ lệ đòn bẩy tài chính, các ngân hàng nên tối ưu hoá chi phí và cần thận trọng khi tiếp cận nguồn vốn lãi suất cao nhằm huy động vốn cho vay để đáp ứng nhu cầu của các thành phần kinh tế.
Sheikh và Qureshi (2017) cho rằng cần cải thiện khung pháp lý ở Pakistan, các nhà hoạch định chính sách ở Pakistan cần cung cấp một môi trường kinh doanh thuận lợi cho các ngân hàng cũng như các công ty phi tài chính để họ có thể đưa ra quyết định của mình một cách tối ưu không chỉ như theo yêu cầu của quy định mà còn đáp ứng một cách linh hoạt các thuộc tính nội bộ của họ và giúp họ có thể xác định cơ cấu vốn cân bằng để tối đa hóa lợi ích của các cổ đông.
Al-Harby (2019) so sánh tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 79 ngân hàng Hồi giáo và 139 ngân hàng chuyển đổi ở 16 quốc gia tại khu vực Trung Đông (MENA) cho thấy rằng lạm phát cao khiến cho ngân hàng Hồi giáo có tỷ lệ đòn bẩy thấp hơn và rủi ro hơn các ngân hàng thông thường.
Theo Assfaw (2020), Abeysekara (2021), các NHTM nên quan tâm đúng mức đến các biến số kinh tế vi mô và điều kiện kinh tế vĩ mô trong khi xác định rõ cơ cấu tài chính tối ưu để có thể giảm thiểu chi phí vốn bình quân gia quyền và nâng cao giá trị của các NHTM.
Nghiên cứu tại Việt Nam và Thái Lan
Allen và cộng sự (2013) cho thấy tăng trưởng GDP có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM. Sakunasingha và cộng sự (2018) chỉ ra rằng tăng trưởng GDP, tỷ lệ thất nghiệp tác động ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính; trong khi đó, tăng trưởng, tỷ lệ nợ công có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM Thái Lan.
Lê Thị Tuấn Nghĩa và Phạm Mạnh Hùng (2016) GDP tác động ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM. Theo Tin và Diaz (2017), các ngân hàng nhỏ có xu hướng nhạy cảm hơn với mọi thay đổi của các nhân tố kinh tế vĩ mô (GDP, lạm phát). Trong thời kỳ bùng nổ kinh tế, các ngân hàng nhỏ thu được nhiều lợi nhuận hơn bình thường, vì vậy họ có thể tận dụng lợi nhuận này để đầu tư trong tương lai, vì đây là nguồn vốn rẻ nhất. Ngoài ra, với cơ hội tiếp cận nguồn vốn lãi suất thấp trong điều kiện kinh tế tốt, các ngân hàng nhỏ có thể nắm bắt cơ hội này để hút một lượng nợ có thể kiểm soát được nhằm tăng lợi nhuận.
Dòng nghiên cứu trước đã đánh giá cao vai trò của nghiên cứu cấu trúc vốn hay tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM, cố gắng lấp đầy khoảng trống nghiên cứu bằng cách vận dụng các lý thuyết cấu trúc vốn vận dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng, 2SLS hay GMM để đánh giá vai trò của các nhân tố đặc điểm ngân hàng, nhân tố thị trường, kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM tại các quốc gia cụ thể, đa quốc gia (Gropp và Heider, 2009; Afolabi, 2014;
Hầu hết các nghiên cứu đã bỏ qua vai trò của sự ổn định ngân hàng, các khoản ngoại bảng hay quản trị doanh nghiệp. Trong dòng nghiên cứu không liên quan trực tiếp đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính, các kết quả nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của mối quan hệ giữa vốn và khả năng hoạt động ổn định của NHTM (Stiroh, 2004b; Chiorazzo và cộng sự, 2008; Sanya và Wolfe, 2011; Lei và Song, 2013; Meslier và cộng sự, 2014; Imbierowicz và Rauch, 2014). Umar và Sun (2016) là một trong số nghiên cứu ít ỏi đánh giá vai trò của sự ổn định và tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM. Với các khoản ngoại bảng, tỷ lệ này cao hạn chế sự gia tăng của tỷ lệ đòn bẩy tài chính trong giai đoạn hình thành khủng hoảng, trong khi chúng làm tăng tỷ lệ đòn bẩy tài chính trong thời kỳ khủng hoảng (Adrian và Shin, 2010; Giordana và Schumacher, 2012).
Tại Việt Nam và một số quốc gia Đông Nam Á đã thực hiện nghiên cứu liên quan đến các nhân tố quyết định cấu trúc vốn của các NHTM. Tại Thái Lan, Allen và cộng sự (2013), Sakunasingha và cộng sự (2018) đã thực hiện nghiên cứu liên quan đến các nhân tố quyết định cấu trúc vốn của các ngân hàng Thái Lan. Tuy nhiên, họ tập trung vào các biến số đặc điểm ngân hàng và các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các ngân hàng ở Thái Lan. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Phạm Mạnh Hùng (2016), Tin và Diaz (2017), Ngô Hoàng Vũ (2020) là một trong số ít đã thực hiện nghiên cứu liên quan đến các nhân tố quyết định cấu trúc vốn của các ngân hàng Việt Nam. Tuy nhiên, cũng giống như nghiên cứu ở Thái Lan đang có khá ít các giả thuyết được chứng minh và họ tập trung vào các biến số đặc điểm ngân hàng và các nhân tố kinh tế vĩ mô. Vai trò quan trọng như sự ổn định ngân hàng, các khoản ngoại bảng, quản trị doanh nghiệp chưa được đề cập và đánh giá.
Qua việc phân tích các công trình nghiên cứu trước, hướng nghiên cứu gợi mở là vận dụng các lý thuyết nền tảng và tìm cách lấp đầy khoảng trống nghiên cứu bằng cách đa dạng các nhân tố có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của ngân hàng thương mại Việt Nam, Thái Lan, các quốc gia Đông Nam Á hay mở rộng hơn là các quốc gia đang phát triển bao gồm ASEAN thông qua việc nghiên cứu vai trò của thu nhập ngoài bảng, sự ổn định của ngân hàng, quản trị doanh nghiệp bên cạnh các nhân tố đặc điểm tài chính và vĩ mô truyền thống. Việc thực hiện nghiên cứu riêng lẻ từng quốc gia là cơ sở nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu nhằm đánh giá sự phù hợp của các lý thuyết và thực nghiệm qua đó vận dụng để đánh giá một cách toàn diện tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM khu vực ASEAN hay các quốc gia đang phát triển đặc biệt là khu vực Châu Á và Châu Phi.
MÃ ĐỀ TÀI 016
