Quan điểm định hướng đối với việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc công khai trong hoạt động thanh tra

Quan điểm định hướng đối với việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc công khai trong hoạt động thanh tra ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Bảo đảm thực hiện nguyên tắc công khai trong hoạt động thanh tra gắn với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Nhà nước pháp quyền là nhà nước đề cao vai trò của pháp luật trong đời sống nhà nước và xã hội, được tổ chức, hoạt động trên cơ sở chủ quyền nhân dân, phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm quyền con người, tự do cá nhân cũng như công bằng, bình đẳng trong xã hội177. Nhà nước pháp quyền là xu hướng xây dựng nhà nước của các quốc gia hiện đại, văn minh hiện nay. Trong xã hội có nhà nước pháp quyền mọi người sống và làm việc theo pháp luật, pháp luật là tối thượng và con người là trung tâm.

Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là mục tiêu chính trị quan trọng được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và được thể hiện xuyên suốt quá trình phát triển đất nước. Nghị quyết Ðại hội Đảng lần thứ XI đã xác định nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII tiếp tục khẳng định một trong các định hướng phát triển đất nước là: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước”. Về phương diện pháp luật, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do

nhân dân, vì nhân dân”. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta được xây dựng đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau đây:

Một là, bộ máy nhà nước phải được tổ chức và hoạt động trong khuân khổ Hiến pháp và pháp luật

Hai là, bộ máy nhà nước phải được tổ chức và hoạt động đúng với quan điểm: “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp”

Ba là, bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động không vì mục đích “cai trị dân chúng”, không nhằm tạo ra các ưu thế và điều kiện thuận lợi cho các cơ quan nhà nước trong quản lý các công việc của dân chúng, mà phải vì mục đích bảo đảm cho người dân được thực hiện đầy đủ và đúng đắn các quyền con người của mình.

Bốn là, bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở xác định rõ mối quan hệ và tương tác lẫn nhau giữa nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xã hội dân sự trong điều kiện cụ thể nước ta.

Năm là, trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta, việc đổi mới mô hình tổ chức bộ máy nhà nước phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn phải tuân thủ toàn bộ các yêu cầu trên trong quá trình thực hiện xây dựng Nhà nước pháp quyền. Trong các yêu cầu trên, yêu cầu thứ ba về việc “…bảo đảm cho người dân được thực hiện đầy đủ và đúng đắn các quyền con người của mình” được thể hiện trên hai phương diện nội dung quan trọng đó là:

Thứ nhất, trong nhà nước pháp quyền, bộ máy nhà nước không có lợi ích riêng, công việc riêng. Công việc của các cơ quan nhà nước, lợi ích của các cơ quan nhà nước chỉ có thể là lợi ích của nhân dân, công việc của nhân dân. Quyền lực của bộ máy nhà nước chính là quyền lực do nhân dân ủy quyền, nhằm giúp nhân dân thực hiện tốt quyền của mình, bảo vệ tốt lợi ích của mình ở những quan hệ mà tự người dân không thể trực tiếp thực hiện. Do vậy, bộ máy nhà nước phải được tổ chức như một nhân tố bảo đảm quyền con người, vì quyền con người, theo ý chí và nguyện vọng của người dân.

Thứ hai, để thật sự là “công bộc” của nhân dân, bộ máy nhà nước phải được hình thành trên cơ sở ý nguyện và lựa chọn của người dân thông qua chế độ bầu cử thật sự dân chủ để bầu ra những người đại diện của nhân dân thực thi công quyền. Mặt khác, để đảm bảo việc nhân dân uỷ quyền cho bộ máy nhà nước mà không bị “mất quyền” thì công việc của các cơ quan và công chức nhà nước phải công khai, minh bạch. Các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước phải có trách nhiệm báo cáo, giải trình trước nhân dân, tạo cơ chế để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của mình đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

Để có thể hiện thực hóa được hai nội dung quan trọng nêu trên, việc việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc công khai trong HĐTT có ý nghĩa quan trọng và phục vụ trực tiếp nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền. Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII tiếp tục xác định nhiệm vụ quan trọng là “Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức.” Công khai trong hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung và trong HĐTT nó riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Điều này trước hết thể hiện ở chỗ việc thực hiện nguyên tắc công khai trong HĐTT giúp đối tượng thanh tra, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan biết quá trình thanh tra (từ khi công bố quyết định thanh tra đến khi kết thúc thanh tra, quá trình đôn đốc, xử lý sau thanh tra). Điều này tạo điều kiện cho họ có thông tin để biết được cơ quan thanh tra, Đoàn thanh tra thực hiện đúng hay không đúng quy định pháp luật, qua đó kịp thời kiến nghị, phản ánh, báo cáo, giải trình những nội dung mà đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân cho rằng cơ quan thanh tra, Đoàn thanh tra thực hiện không đúng, qua đó bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Đồng thời, cũng thông qua việc thực hiện nguyên tắc công khai cũng giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân, báo chí tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thanh tra, Đoàn thanh tra, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm theo thẩm quyền và kiến nghị, phản ánh, tố cáo hành vi vi phạm phạm pháp luật với cơ quan có thẩm quyền.

Cũng cần nhấn mạnh rằng dù nguyên tắc công khai trong HĐTT có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, việc thực hiện và bảo đảm thực hiện nguyên tắc này luôn cần phải tiến hành trên cơ sở những yêu cầu của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo đúng tinh thần đề cao vào tôn trọng tính tối thượng của pháp luật. Điều này có nghĩa việc thực hiện và bảo đảm thực hiện nguyên tắc công khai trong HĐTT cần tiến hành trên cơ sở các quy định pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng, phù hợp các khía cạnh có liên quan đến công khai trong HĐTT. Các quy định này được xây dựng trên cơ sở tuân thủ tính tối cao của Hiến pháp, đồng bộ, phù hợp với các quy định pháp luật khác. Việc thực hiện các hoạt động bảo đảm công khai trong HĐTT không được tiến hành tùy tiện mà cần được thực hiện trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật. Đặc biệt cần áp dụng những biện pháp chế tài cụ thể để xử lý những vi phạm trong việc thực hiện nguyên tắc công khai trong HĐTT.

Bảo đảm thực hiện nguyên tắc công khai trong hoạt động thanh tra gắn với yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Cải cách nền hành chính nhà nước là những thay đổi có tính hệ thống, lâu dài và có mục đích nhằm làm cho hệ thống hành chính nhà nước hoạt động tốt hơn, thực hiện tốt hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình178 nhằm xây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính nhà nước hiệu lực, hiệu quả và hiện đại. Cải cách nền hành chính nhà nước tập trung vào sáu vấn đề cơ bản, bao gồm: cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính

Cải cách nền hành chính nhà nước tác động trực tiếp đến việc thực hiện nguyên tắc công khai trong HĐTT. Trước hết, điều này tác động đến việc hoàn thiện chính sách pháp luật về nguyên tắc công khai, bảo đảm công khai trong hoạt động QLNN được thể hiện trong công khai trong HĐTT và như vậy tạo nên tính thống nhất, đồng bộ về thực hiện nguyên tắc công khai. Hơn nữa, cải cách nền hành chính nhà nước cũng gắn với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức giúp cho việc thực hiện nguyên tắc công khai được thuận lợi hơn, đúng

  1. Tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên (2018) do Bộ Nội vụ ban hành. đắn, khoa học trong hoạt động QLNN nói chung, HĐTT nói riêng. Cùng với điều này, cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính nhà nước tạo nội lực cho việc đa dạng hóa hình thức công khai và cung cấp phương tiện tiếp cận nội dung công khai. Bảo đảm cho mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, báo chí được tiếp cận thông tin và thực hiện các quyền nhà nước trao cho để bảo vệ quyền. lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân và Nhà nước. Như vậy, cải cách nền hành chính nước được thực hiện một cách toàn diện, tác động trực tiếp đến mọi lĩnh vực hoạt động của QLNN trong đó có HĐTT và việc thực hiện nguyên tắc công khai trong HĐTT, cụ thể:

Thứ nhất, bởi thể chế có tính bắt buộc phải thực hiện, vì vậy khi thể chế được cải cách (loại bỏ những quy định không phù hợp, sửa đổi, bổ sung những quy định mới phù hợp hơn) giúp cho chủ thể quản lý thực hiện quản lý hiệu quả hơn, đối tượng quản lý chấp hành tốt hơn giúp hoàn thiện các chính sách pháp luật, trong đó có quy định về công khai, nguyên tắc công khai trong HĐTT. Từ việc chỉ nêu nguyên tắc công khai trong HĐTT trong Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 cho đến việc thể chế hóa về nội dung, hình thức, đối tượng, phạm vi công khai, trách nhiệm của cơ quan thanh tra trong việc công khai trong luật Thanh tra năm 2004, Luật Thanh tra năm 2010 và Luật Thanh tra năm 2022 là một bước tiến đáng ghi nhận. Ngoài ra Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, 2018 và Luật Tiếp cận thông tin đã quy định thêm các nội dung bắt buộc công khai, hình thức công khai, trình tự thủ tục công khai, khiếu nại cơ quan có trách nhiệm công khai không thực hiện công khai (các biện pháp bảo đảm công khai); quyền tiếp cận thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin đối với cơ quan nhà nước.

Thứ hai, bản thân HĐTT là một nội dung hoạt động của quản lý hành chính nhà nước nên gắn trực tiếp với cải cách nền hành chính nhà nước, trong đó có nội dung cải cách thủ tục hành chính mà vấn đề công khai, minh bạch trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được đặc biệt nhấn mạnh. Chính điều này đã trực tiếp tác động đến việc thực hiện nguyên tắc công khai trong HĐTT (công khai với đối tượng thanh tra, công khai với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác) góp phần xây dựng Nhà nước kiến tạo, Chính phủ liêm chính, hành động, phục vụ, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình đổi mới tổ chức và HĐTT trên cơ sở tinh thần của Nghị quyết 18/NQ-TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Việc thực hiện nguyên tắc công khai trong HĐTT hỗ trợ tích cực giúp việc tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước được tiến hành thuận lợi. Thông qua việc thực hiện nguyên tắc công khai, HĐTT giúp các cơ quan QLNN phát hiện các chính sách pháp luật không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn ngăn chặn, xử lý kịp thời hành vi vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức. Trên cơ sở đó, cơ quan thanh tra kịp thời kiến nghị sửa đổi chính sách pháp luật không phù hợp, tạo môi trường pháp lý hoàn thiện, minh bạch trong quản lý; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, chính trị cho cán bộ, công chức, viên chức để ngày càng nâng cao chất lượng của đội ngũ này đáp ứng ngày càng cao các yêu cầu của hoạt động QLNN.

Nền kinh tế thị trường được nhiều nước trên thế giới áp dụng, ở Việt Nam thực hiện phát triển đất nước theo hình thức kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa được thực hiện từ năm 1986 và được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp năm 1992, 2013 và các văn bản pháp luật, cụ thể: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo179. Một trong các đặc trưng của của nền kinh tế thị trường là: “là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”180.

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội. Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn

  1. Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. lực, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường181.

Với các yêu cầu như đã nêu trên, Nhà nước đóng vai trò quyết định, cụ thể là các cơ quan QLNN theo nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện nhiệm vụ để bảo đảm khắc phục những nhược điểm của nền kinh tế thị trường. Đặc biệt, đối với các cơ quan thanh tra nhà nước (giúp thủ trưởng cơ quan QLNN kiểm tra việc chấp hành pháp luật của đối tượng quản lý, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan QLNN cấp dưới và các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân thuộc đối tượng quản lý) tạo môi trường quản lý minh bạch, công bằng cho nền kinh tế phát triển và sự cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp, cá nhân tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh. Do vậy, các cơ quan thanh tra phải tuân thủ theo nguyên tắc quản lý chung của hoạt động QLNN, trong đó cụ thể tuân thủ nguyên tắc công khai trong quá trình thực hiện nhiệm vụ với đối tượng thanh tra, các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm đảm bảo cho hiệu lực, hiệu quả QLNN.

Bảo đảm thực hiện nguyên tắc công khai trong hoạt động thanh tra gắn với việc tăng cường trách nhiệm của chủ thể thanh tra và trách nhiệm giám sát hoạt động thanh tra của các chủ thể có thẩm quyền

Hoạt động thanh tra đánh giá việc chấp hành pháp luật của đối tượng thanh tra, ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng thanh tra, kiến nghị, sửa đổi các chính sách pháp luật không phù hợp làm ảnh hưởng đến hoạt động của đối tượng thanh tra. Do vậy, đối tượng thanh tra luôn có tâm lý che giấu những hành vi sai trái, chống đối Đoàn thanh tra còn Đoàn thanh tra luôn bị đối tượng thanh tra mua chuộc, hối lộ để Đoàn thanh tra bỏ qua hành vi vi phạm của đối tượng thanh tra. Chính vì vậy, trong HĐTT, yêu cầu cần đề cao trách nhiệm của các chủ thể thanh tra: Người ra quyết định thanh tra trong vai trò là người tổ chức, chỉ đạo Đoàn thanh tra; Trưởng Đoàn thanh tra với vai trò là người tổ chức, chỉ đạo thành viên Đoàn thanh tra. Tránh tình trạng Đoàn thanh tra bỏ qua, làm nhẹ hoặc dọa nạt, sách nhiễu đối tượng thanh tra để trục lợi.

Với việc quy định trách nhiệm như vậy, giúp các chủ thể thanh tra xác định rõ trách nhiệm của cá nhân trong quá trình thanh tra để thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, tránh tình trạng lạm quyền, vượt quyền, nhũng nhiễu, gây phiền hà hoặc bỏ lọt hành vi vi phạm làm ảnh hưởng đến hoạt động QLNN nói chung, HĐTT nói riêng. Không tạo được tính công bằng trong QLNN, trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

Trong quá trình thanh tra, một trong các nội dung quản lý không thể thiếu là hoạt động giám sát Đoàn thanh tra. Hoạt động giám sát được thực hiện bởi các cơ quan QLNN có thẩm quyền, giám sát của các tổ chức chính trị xã hội, giám sát của người dân và giám sát của chính cơ quan thanh tra đối với HĐTT.

Các cơ quan QLNN theo thẩm quyền, thông qua việc công khai hoạt động của cơ quan thanh tra (thông qua Kế hoạch thanh tra hàng năm, Quyết định thanh tra, Kết luận thanh tra…) mà tiến hành giám sát hoặc thực hiện các cuộc kiểm tra, thanh tra để giám sát HĐTT thông qua hồ sơ thanh tra. Qua đó kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm pháp luật hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật.

Các tổ chức chính trị xã hội, công dân thông qua hoạt động công khai của cơ quan thanh tra (công khai Kế hoạch thanh tra hàng năm, Quyết định thanh tra, Kết luận thanh tra…) mà tiến hành giám sát việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cơ quan thanh tra. Qua đó kịp thời kiến nghị ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích cho cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Giám sát của cơ quan thanh tra được thực hiện bởi người ra quyết định thanh tra hoặc cán bộ công chức được người ra quyết định thanh tra giao. Người giám sát có trách nhiệm báo cáo người ra quyết định thanh tra về việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra. Qua đó phát hiện các hành vi vi phạm của các chủ thể thanh tra, đối tượng thanh tra. Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra bằng hình thức báo cáo người ra quyết định thanh tra những kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo của đối tượng thanh tra với Đoàn thanh tra. Như vậy, các chủ thể giám sát có thể sẽ bị các chủ thể thanh tra tác động, hối lộ để người giám sát bỏ qua hành vi vi phạm của các chủ thể thanh tra cho nên cần phải có các biện pháp bảo đảm cho hoạt động giám sát thực hiện đúng pháp luật, cụ thể182: trường hợp người thực hiện giám sát có hành vi vi phạm khi thực hiện giám sát thì Thủ trưởng cơ quan thanh tra chủ trì kiểm điểm, làm rõ hành vi vi phạm để xử lý theo quy định.

Qua việc bảo đảm thực hiện nhiệm vụ giám sát để người giám sát thực hiện đúng pháp luật, qua đó bảo đảm cho các chủ thể thanh tra thực hiện đúng quy định pháp luật nói chung, bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc công khai nói riêng.

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc công khai trong hoạt động thanh tra phải mang tính toàn diện, đồng bộ, phù hợp với đời sống chính trị, kinh tế – xã hội của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng

Nội dung cơ bản của đời sống chính trị, xã hội là hoạt động chính trị tự giác, có mục đích của con người. Các quan hệ quyền lực ở các cấp tổ chức chế độ xã hội khác nhau tạo thành nội dung bên trong của đời sống chính trị. Kết cấu bên trong của đời sống chính trị, xã hội bao gồm hệ thống chính trị với các bộ phận cơ bản của nó, các quá trình hoạt động chính trị cùng các yếu tố của văn hóa chính trị đảm bảo sự tham gia đại chúng vào việc giải quyết những vấn đề có ý nghĩa xã hội và các cá nhân, tổ chức chịu sự điều chỉnh của hoạt động chính trị được vận động, phát triển, chấm dứt theo mục đích hoạt động chính trị.

Đời sống chính trị, xã hội chi phối toàn bộ hoạt động của một quốc gia về định hướng phát triển, hoạt động của nhà nước và công dân thông qua các hoạt động kinh tế, văn hóa, đạo đức, pháp luật, tôn giáo. Việc ban hành các chính sách pháp luật quản lý xã hội chịu sự chi phối đặc trưng của đời sống chính trị, xã hội. Đời sống chính trị, xã hội hoạt động như thế nào thì hệ thống pháp luật được quy định như vậy. Do đó, quy định pháp luật chỉ được triển khai thực hiện trong thực tiễn khi phù hợp với đời sống chính trị, xã hội. Quy định pháp luật về thực hiện nguyên tắc công khai trong HĐTT phải đảm bảo tính toàn diện, tổng thể phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của Việt Nam. Nguyên tắc công khai bảo đảm cho quyền công dân, cơ quan, tổ chức, cá nhân báo chí thực hiện quyền giám sát hoặc tham gia vào hoạt động QLNN, kịp thời phát hiện hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, không phải mọi hoạt động của cơ quan thanh tra phải công khai mà việc công khai không làm ảnh hưởng đến an ninh, chính trị quốc gia, bí mật kinh doanh và hoạt động QLNN.

Ngoài việc nguyên tắc công khai phải bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ phù hợp với đời sống chính trị, kinh tế – xã hội, nguyên tắc công khai cũng cần được nhận thức, xây dựng và thực hiện bảo đảm phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa sâu rộng hiện nay. Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa được Nhà nước Việt Nam đề cập đến từ đại hội IX, X, XI, XIIvà tiếp tục được khẳng định tại Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) nhấn mạnh: “…Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển...”183. Cho đến nay về cơ bản hội nhập quốc tế được triển khai trên ba lĩnh vực chính gồm: Hội nhập trong lĩnh vực kinh tế (hội nhập kinh tế quốc tế); hội nhập trong lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa – xã hội, giáo dục, khoa học – công nghệ và các lĩnh vực khác, trong đó hội nhập kinh tế, quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế.

Một trong những nội dung quan trọng của yêu cầu hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa là cần phải thay đổi chính sách pháp luật phù hợp với quy chuẩn chung của thế giới được các quốc gia thừa nhận và ký kết. Nhằm tạo môi trường pháp lý minh bạch, thu hút đầu tư phát triển kinh tế. Do vậy, nguyên tắc công khai trong hoạt động QLNN nói chung, HĐTT nói riêng cần bảo đảm phù hợp với quy chuẩn chung của thế giới và điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập như Công ước quốc tế về phòng, chống tham nhũng, xây dựng chính phủ mở.

 Các giải pháp bảo đảm nguyên tắc công khai trong hoạt động thanh tra

Trên cơ sở những định hướng bảo đảm nguyên tắc công khai trong HĐTT, kết quả phân tích lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về nguyên tắc công khai trong hoạt động thanh tra và kết quả khảo sát về thực tiễn thực hiện nguyên nguyên tắc công khai của cán bộ thanh tra, Luận án đưa ra các giải pháp bảo đảm nguyên tắc công khai trong hoạt động thanh tra.

Đổi mới tư duy, nhận thức về nguyên tắc công khai trong hoạt động thanh tra

Thứ nhất, cần phải nhận thức rõ về nội dung, hình thức, phạm vi công khai, trách nhiệm công khai, đối tượng được công khai. Các chủ thể thanh tra (người ra quyết định thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra) cần phải nhận thức sâu sắc về bản chất của nguyên tắc công khai được thực hiện xuyên suốt quá trình thanh tra. Ngoài ra, các chủ thể tiến hành thanh tra cần nhận thức đầy đủ về nội dung, hình thức, phạm vi công khai, trách nhiệm công khai, đối tượng được công khai. Tránh tình trạng nhận thức không đúng, không đầy đủ, hiểu sai quy định về nguyên tắc công khai dẫn tới thực hiện sai nội dung công khai, vượt phạm vi công khai hoặc thu hẹp phạm vi công khai, công khai thiếu đối tượng được quyền nhận thông tin, thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện công khai. Ngoài các chủ thể thanh tra trực tiếp thực hiện nguyên tắc công khai thì thủ trưởng cơ quan QLNN cũng cần nhận thức đầy đủ để chỉ đạo, kiểm tra, xử lý hành vi vi phạm nguyên tắc công khai.

Thứ hai, cần xác định nguyên tắc công khai là một trong những công cụ quan trọng phòng, chống tham nhũng và xây dựng “Chính phủ mở”. Thông qua việc thực hiện nguyên tắc công khai trong HĐTT (đồng nghĩa với việc đối tượng thanh tra, các cơ quan, tổ chức, cá nhân báo chí luôn theo dõi, giám sát), các chủ thể thanh tra ý thức hơn trong việc tuân thủ pháp luật, tránh việc lạm quyền, lộng quyền, gây khó khăn cho đối tượng thanh tra nhằm trục lợi. Hoặc trường hợp Đoàn thanh tra và đối tượng thanh tra thông đồng với nhau để bỏ qua vi phạm pháp luật thì việc thực hiện nguyên tắc công khai giúp các cơ quan báo chí, các cơ quan quản lý khác và công dân phát hiện hành vi vi phạm thực hiện quyền tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật. Chính vì vậy, nguyên tắc công khai là một trong các công cụ phòng, chống tham nhũng được ghi nhận trong Luật phòng, chống tham nhũng buộc các cơ quan QLNN phải thực hiện.

Hoạt động QLNN (trong đó có HĐTT) có đảm bảo tính minh bạch, tạo lập môi trường hoạt động kinh doanh tốt, thu hút đầu tư ở trong và nước ngoài hay không, phụ thuộc một phần quan trọng trong công cụ quản lý chính là thực hiện hình thức công khai. Do vậy các cơ quan, chủ thể QLNN cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, và tầm quan trọng của việc thực hiện nguyên tắc công khai, ý thức rõ việc thực hiện nguyên tắc công khai là một phần quan trọng trong việc xây dựng “Chính phủ mở” hướng tới phục vụ người dân, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển kinh tế, xã hội.

Thứ ba, cần nhận thức việc thực hiện nguyên tắc công khai là bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, báo chí. Công dân được nhà nước bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp thông qua các quyền phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo. Để thực hiện các quyền trên nhà nước quy định cho công dân giám sát hoạt động QLNN. Một trong các công cụ giám sát là công dân được quyền tiếp cận thông tin ghi nhận tại Luật tiếp cận thông tin và cơ quan QLNN phải có trách nhiệm công khai hoạt động QLNN (trừ những thông tin mật mang yếu tố chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế mà luật quy định). Do vậy, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân thì một trong các công cụ là cơ quan QLNN (trong đó có cơ quan thanh tra) phải thực hiện công khai.

Các cơ quan, tổ chức, báo chí có trách nhiệm giám sát hoạt động QLNN (trong đó có HĐTT), phát hiện, đấu tranh hành vi vi phạm pháp luật thông qua quyền kiến nghị, phản ánh. Để việc giám sát được thực hiện thì các cơ quan QLNN phải công khai hoạt động QLNN, qua đó các cơ quan, tổ chức, báo chí thực hiện quyền giám sát, kịp thời phát hiện hành vi vi phạm kiến nghị, phản ánh tới cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn, xử lý kịp thời hành vi vi phạm. Như vậy thực hiện nguyên tắc công khai chính là bảo đảm quyền cho cơ quan, báo chí.

Hoàn thiện pháp luật bảo đảm thực hiện nguyên tắc công khai trong hoạt động thanh tra

Bảo đảm thực hiện nguyên tắc công khai trong HĐTT không chỉ được quy định tại Luật thanh tra mà được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhằm đảm bảo toàn diện hoạt động công khai, từ trách nhiệm của các cơ quan QLNN đến quyền của công dân về tiếp cận thông tin, cụ thể: cùng với quy định của Luật thanh tra về nội dung, hình thức, trình tự thủ tục và trách nhiệm thực hiện công khai của cơ quan thanh tra thì cơ quan thanh tra cũng cần tuân thủ nội dung, trình tự thủ tục của Luật phòng chống tham nhũng và Luật Tiếp cận thông tin về xử lý thông tin,giải quyết khiếu nại về cung cấp thông tin. Kết quả khảo sát cho thấy 76% cho rằng cần quy định cụ thể hơn về nội dung, hình thức và các chế tài công khai nếu vi vi phạm và có đến 73% cho rằng cần có những quy định cụ thể về công khai trong thanh tra, từng hoạt động thanh tra cho phù hợp.184 Trong đó, việc quy định cụ thể hơn về nội dung công khai, hình thức công khai và các chế tài nếu vi phạm chiếm tỉ lệ cao nhất đối với các chức danh từ thanh tra viên cán bộ công chức, trưởng phó phòng đến chánh thanh tra, phó chánh thanh tra lần lượt là 72.4%, 77%, 87% và cần có những quy định cụ thể về công khai trong từng loại hoạt động thanh tra cho phù hợp chiếm tỉ lệ cao đối với thanh tra viên, cán bộ công chức thanh tra, trưởng phó phòng, chánh thanh tra, phó chánh thanh tra lần lượt là 73.5%, 73,8%, 70.4%185. Nội dung khảo sát này phù hợp với thực trạng việc thực hiện nguyên tắc công khai. Vì vậy, cần hoàn thiện các quy định pháp luật để bảo đảm thực hiện nguyên tắc công khai theo những nội dung sau đây

MÃ ĐỀ TÀI 008

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *