Quá trình hình thành, phát triển của Ngân hàng Chính sách xã hội
Phát triển KT-XH gắn với xóa đói giảm nghèo là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước trong quá trình đổi mới và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo, vùng khó khăn đã được triển khai thực hiện ở Việt Nam ngay từ ngày thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam (năm 1951) và đã trở thành công cụ đắc lực, hữu hiệu góp phần xóa đói, giảm nghèo cơ bản và bền vững. Quan hệ tín dụng “có vay có trả”, “cho cần câu thay vì cho cá”, vừa giúp cho người nghèo có vốn để sản xuất, tiếp cận từng bước với kinh tế thị trường, vừa đặt ra cho các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể phải có trách nhiệm đến cùng trong việc giúp đỡ người nghèo vượt qua khó khăn, phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống và nâng cao vị thế của họ trong xã hội.
Tại Nghị quyết số 05-NQ/HNTW ngày 10/6/1993, Hội nghị lần Thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII về tiếp tục đổi mới và phát triển KT-XH nông thôn, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối về tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, hộ chính sách, vùng nghèo, vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng căn cứ cách mạng; mở rộng hình thức cho vay thông qua tín chấp đối với các hộ nghèo… Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Đảng và Chiến lược quốc gia về xóa đói giảm nghèo, năm 1993, Chính phủ đã thành lập Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo với số vốn ban đầu là 400 tỷ đồng để cho vay hộ nghèo với mức cho vay 500 nghìn đồng/hộ mà không cần thực hiện bảo đảm tiền vay.
Căn cứ vào kết quả điều tra mức sống dân cư năm 1992-1993, Chính phủ Việt Nam bắt đầu ban hành các chính sách có liên quan đến xóa đói giảm nghèo được thực hiện trên phạm vi cả nước và đặt trong mối quan hệ mật thiết với Chiến lược ổn định và phát triển KT-XH 1991 – 2000. Tại Hội nghị thượng đỉnh Copenhagen tại Đan Mạch về phát triển xã hội, Chính phủ Việt Nam khẳng định trước toàn thế giới xóa đói giảm nghèo là chính sách quan trọng của quốc gia. Sau khi tiến hành điều tra mức sống dân cư năm 1997-1998, Chính phủ đã xây dựng và ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998-2000. Tiếp đó, các chương trình xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001-2005, 2006-2010 và 2011-2015 lần lượt được ban hành và đi vào triển khai trong thực tiễn làm cơ sở quan trọng cho công cuộc xóa đói giảm nghèo trên phạm vi cả nước. Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách đối với người nghèo, trong đó nổi bật lên là chính sách tín dụng ưu đãi. Theo đó, Chính phủ giao cho các ngân hàng thương mại nhà nước cho vay lãi suất ưu đãi đối với các tổ chức kinh tế và dân cư thuộc vùng núi cao, hải đảo, vùng đồng bào Khmer sống tập trung; thành lập Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo.
Năm 1995, Thủ tưởng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 525/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng Phục vụ người nghèo, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận để cung cấp nguồn vốn ưu đãi cho hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh. Chính phủ giao cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn điều hành hoạt động của Ngân hàng phục vụ người nghèo, thiết lập kênh tín dụng riêng để hỗ trợ tài chính cho các hộ nghèo với các chính sách tín dụng đa dạng, hợp lý, giúp hộ nghèo có vốn sản xuất, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và từng bước làm quen với phương thức sản xuất hàng hóa và có điều kiện thoát khỏi đói nghèo. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, mô hình này đã bộc lộ nhiều yếu kém như chưa tách bạch được chức năng kinh doanh và chức năng hoạch định, điều hành TDCS, việc hình thành các nguồn vốn cho vay nằm rải rác ở nhiều tổ chức tài chính với cơ chế quản lý khác nhau, không tác bạch được TDCS và tín dụng thương mại…
Trước tình hình đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác để tách Ngân hàng Phục vụ Người nghèo ra khỏi Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. NHCSXH được thành lập theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Sự ra đời của NHCSXH đã đánh dấu sự phát triển của hệ thống tài chính vi mô ở Việt Nam, tách TDCS ra khỏi chính sách thương mại. Từ thời điểm này, NHCSXH đã trở thành một định chế tài chính để Nhà nước huy động các nguồn lực trong xã hội nhằm chăm lo cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác. NHCSXH hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện mục tiêu cung cấp dịch vụ tín dụng cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác nhằm phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội.
Địa vị pháp lý, chức năng và nhiệm vụ của Ngân hàng Chính sách xã hội
Địa vị pháp lý
Địa vị pháp lý của NHCSXH không thay đổi kể từ khi thành lập đến nay. Ngày 04/10/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập NHCSXH; đến ngày 22/01/2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 16/2003/QĐ-TTg phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của NHCSXH.
Theo đó, NHCSXH được thành lập trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo, có bộ máy quản lý và điều hành thống nhất trong phạm vi cả nước. NHCSXH là một pháp nhân có Hội sở chính đặt tại Thủ đô Hà Nội; có vốn điều lệ 5.000 tỷ đồng; có con dấu; có tài khoản mở tại Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng trong nước và ngoài nước; có bảng cân đối tài chính, các quỹ theo quy định của pháp luật. NHCSXH hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp NSNN.
Chức năng
– Thứ nhất, bên cạnh nguồn vốn từ NSNN, NHCSXH được huy động vốn từ tiền gửi có trả lãi của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; tiền gửi của các tổ chức tín dụng Nhà nước bằng 2% số dư nguồn vốn huy động bằng đồng Việt Nam có trả lãi theo thoả thuận; tiền gửi tự nguyện không lấy lãi của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác; tiền tiết kiệm của người nghèo. Ngoài ra, NHCSXH cũng được đi vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước, vay Tiết kiệm Bưu điện, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, vay Ngân hàng Nhà nước; nhận vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức CT-XH, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi Chính phủ trong và ngoài nước; nhận vốn nhận ủy thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, tổ chức CT-XH, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi Chính phủ, các cá nhân trong và ngoài nước…
– Thứ hai, NHCSXH được sử dụng nguồn vốn được cấp, vốn huy động, vốn vay và nhận từ các nguồn khác nhau để cho vay hộ nghèo; học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và học nghề; các đối tượng cần vay vốn để giải quyết việc làm; các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài; các tổ chức kinh tế và hộ sản xuất, kinh doanh thuộc hải đảo; thuộc khu vực II, III miền núi và thuộc Chương trình phát triển KT-XH các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa; và các đối tượng khác khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
– Thứ ba, NHCSXH được thực hiện các nghiệp vụ về thanh toán và ngân quỹ như mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật; mở tài khoản ngoại tệ tại nước ngoài theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; lập hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước; thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ bao gồm: cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước, thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ bằng tiền mặt và không bằng tiền mặt… NHCSXH cũng được thực hiện các nghiệp vụ về ngoại hối và kinh doanh ngoại hối.
Nhiệm vụ
– Giai đoạn đầu từ năm 2002 đến năm 2006, NHCSXH thực hiện các nhiệm vụ: (i) Cho vay hộ nghèo theo quy định tại Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ; (ii) Cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn nhận bàn giao thực hiện từ Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương; (iii) Cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn theo Quyết định số 62/2004/QĐ-TTg ngày 16/04/2004 của Thủ tướng Chính phủ; (iv) Cho vay đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài theo Quyết định số 365/2004/QĐ-NHNN ngày 13/4/2004 của Thống đốc NHNN; (v) Cho vay giải quyết việc làm theo Quyết định số 71/2005/QĐ-TTg ngày 05/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ.
– Giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2011, bên cạnh cách nhiệm vụ cho vay của giai đoạn trước, NHCSXH được giao thêm các nhiệm vụ: (i) Cho vay hộ sản xuất, kinh doanh vùng khó khăn theo Quyết định số 31/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ; (ii) Cho vay hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ; (iii) Cho vay hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ; (iv) Cho vay xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ Đồng Bằng sông Cửu Long theo Quyết định số 1151/QĐ-TTg ngày 26/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ; (v) Cho vay Xuất khẩu lao động tại các huyện nghèo theo Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ; (vi) Cho vay hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo Đồng bằng sông Cửu Long theo Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg ngày 9/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ; (vii) Cho vay hộ đồng bào thiểu số nghèo theo Quyết định số 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ; (viii) Cho vay thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn miền núi theo Quyết định số 92/2009/QĐ-TTg ngày 08/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ.
– Giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, trước những thay đổi về các đối tượng có nhu cầu vay vốn TDCS, NHCSXH được giao thực hiện thêm các nhiệm vụ: (i) Cho vay hộ cận nghèo theo Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg ngày 23/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ; (ii) Cho vay hộ mới thoát nghèo theo Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg ngày 21/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ; (iii) Cho vay hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung theo Quyết định số 716/QĐ-TTg ngày 14/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ; (iv) Cho vay các dự án và cho vay đối với hộ gia đình và người nhiễm HIV, người sau cai nghiện ma túy, người điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, người bán dâm hoàn lương theo Quyết định số 29/2014/QĐ-TTg ngày 26/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ; (v) Cho vay nhà ở xã hội theo Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ.
– Năm 2021, NHCSXH cũng được giao thực hiện thêm nhiệm vụ cho vay trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất kinh doanh đối với người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 của Chính phủ và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ.
Đặc điểm của Ngân hàng Chính sách xã hội
Về mục tiêu hoạt động
NHCSXH ra đời nhằm phục vụ cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn hoặc thuộc diện chính sách xã hội để giúp họ vượt qua khó khăn theo chương trình của chính phủ. Còn ngân hàng thương mại lại được thành lập bởi các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp theo đúng quy định pháp luật để thực hiện các hoạt động ngân hàng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp đó.
Với mục đích hoạt động của mình, NHCSXH được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán; tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng là 0%; không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp NSNN theo quy định của pháp luật. Trong khi đó, ngân hàng thương mại không được hưởng các đặc quyền này.
Về đối tượng phục vụ
NHCSXH phục vụ các đối tượng hộ nghèo, đối tượng khó khăn, thuộc diện chính sách xã hội ngay cả khi các đối tượng này tiềm ẩn nhiều rủi ro, mức vay vốn rất nhỏ, thời hạn ngắn và nhu cầu vay với lãi suất thấp. Còn đối tượng phục vụ của ngân hàng thương mại là tất cả mọi đối tượng có nhu cầu, miễn là các đối tượng này có thể mang lại lợi nhuận cho ngân hàng trong một phạm vi rủi ro có thể chấp nhận được.
Thông thường những đối tượng khách hàng không thể tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng thương mại thì lại là đối tượng được NHCSXH phục vụ nhiều nhất. NHCSXH với sự hỗ trợ về cơ chế của Nhà nước đã góp phần lấp đầy khoảng trống về cung cấp vốn tín dụng trong thị trường, đảm bảo công bằng cho tất cả người dân đều có thể tiếp cận, sử dụng để sản xuất kinh doanh, cải thiện cuộc sống.
Về các hoạt động chính
Ngân hàng thương mại sẽ cung cấp đến khách hàng các dịch vụ tài chính ngân hàng toàn diện như cho vay, huy động nguồn vốn, bảo lãnh, chiết khấu, dịch vụ tín dụng cá nhân, thanh toán quốc tế (swift code, telegraphic transfer…), mở thẻ, bảo hiểm… Trong khi đó, NHCSXH mặc dù cũng được cho phép thực hiện các hoạt động thanh toán và ngân quỹ; tuy nhiên, quy mô triển khai chỉ nhằm mục đích hỗ trợ cho 02 hoạt động chính sách là huy động vốn và cho vay TDCS.
Về chiến lược phát triển
Chiến lược phát triển của NHCSXH thường gắn liền với chính sách phát triển kinh tế và an sinh xã hội của Chính phủ, từ đó đưa các chương trình hỗ trợ đối tượng chính sách xã hội và kế hoạch huy động nguồn lực phù hợp vào Chiến lược phát triển để triển khai thực hiện.
Trong khi đó, đối với ngân hàng thương mại, chiến lược phát triển sẽ phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh, tầm nhìn và tình hình thực tế của doanh nghiệp. Các ngân hàng thương mại thường sẽ cố gắng căn cứ vào nguồn lực sẵn có của mình và mục tiêu tạo ra lợi thế cạnh tranh khác biệt trên thị trường để xây dựng chiến lược phát triển.
Về mô hình tổ chức hoạt động
NHCSXH thuộc sở hữu 100% của Nhà nước và được Nhà nước bảo hộ. Theo các quy định hiện hành, NHCSXH không thuộc loại hình doanh nghiệp nào, mà hoạt động theo mô hình đặc thù do Thủ tướng Chính phủ quy định. Tuy nhiên, thời gian qua, về cơ bản, mô hình tổ chức hoạt động của NHCSXH chủ yếu được vận dụng theo cơ chế quy định áp dụng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.
Trong khi đó, các ngân hàng thương mại mặc dù đều phải thực hiện theo các quy định chung theo Luật các tổ chức tín dụng và quy định của Ngân hàng Nhà nước. Mô hình của ngân hàng thương mại là doanh nghiệp, tuy nhiên có thể được phân loại thành nhiều loại hình như: Ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài, ngân hàng chi nhánh nước ngoài.
HĐQT của ngân hàng thương mại bao gồm các cá nhân đại diện phần vốn tại ngân hàng. Trong khi đó, HĐQT của NHCSXH lại bao gồm rất nhiều thành viên đại diện cho các bộ, ngành, cơ quan, đoàn thể có liên quan đến việc triển khai hoạt động TDCS xã hội.
Về nguồn vốn
Nguồn vốn của NHCSXH được tạo lập chủ yếu từ NSNN hoặc có nguồn gốc từ NSNN theo các hình thức như cấp vốn điều lệ, cấp vốn cho các chương trình tín dụng ưu đãi, nguồn vốn ODA, nguồn vốn phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, nguồn vốn huy động trên thị trường được NSNN cấp bù lãi suất…Do đặc điểm đó nên khối lượng nguồn vốn của NHCSXH tăng trưởng hàng năm đều được xác định theo kế hoạch được Chính phủ phê duyệt và hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào NSNN.
Trong khi đó, nguồn vốn của ngân hàng thương mại chủ yếu là do tự huy động trên thị trường thông qua vai trò trung gian tín dụng, làm cầu nối trung gian giữa những người có nguồn tiền thặng dư sẵn sàng gửi để sinh lời và những người cần tiền.
Kết quả hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia
Trải qua 20 năm xây dựng và phát triển, được sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính Phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương, NHCSXH đã bám sát các chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức CT-XH tập trung các nguồn lực, đẩy mạnh thực hiện các chương trình TDCS, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển KT-XH, đặc biệt là mục tiêu giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới. NHCSXH đã thực hiện tốt những mục tiêu mà Chính phủ đã đặt ra ban đầu là: Tập trung nguồn lực lớn, tạo bước đột phá trong công tác giảm nghèo; nâng cao chất lượng và hiệu quả vốn TDCS; tách TDCS ra khỏi tín dụng thương mại; huy động lực lượng toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp xóa đói giảm nghèo; góp phần hạn chế nạn cho vay nặng lãi ở khu vực nông thôn. Một số kết quả cụ thể như sau:
– Thứ nhất, NHCSXH đã tập trung huy động được các nguồn lực tài chính để tạo lập nguồn vốn tín dụng, đáp ứng cơ bản nhu cầu vốn cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Nhà nước luôn quan tâm tạo lập nguồn vốn cho NHCSXH qua nhiều kênh khác nhau. HĐQT và bộ máy điều hành tác nghiệp của NHCSXH đã tích cực thực hiện nhiều giải pháp có hiệu quả để huy động đủ nguồn vốn theo chỉ tiêu kế hoạch giao. Do đó, mặc dù có những thời điểm khó khăn nhưng nhìn chung nguồn vốn tín dụng thời gian qua đã đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách theo kế hoạch được giao hàng năm, đặc biệt đã tập trung vốn cho vay tại các vùng khó khăn có đông đồng bào dân tộc sinh sống (Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ).
– Thứ hai, NHCSXH đã tổ chức thực hiện các chương trình TDCS đạt hiệu quả về KT-XH. Việc triển khai TDCS của Nhà nước từ khi thành lập đến nay đã góp phần giúp trên 5,1 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm cho trên 3,7 triệu lao động, trên 3,6 triệu lượt học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng trên 11,9 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường ở nông thôn; trên 104 nghìn căn nhà cho hộ gia đình vượt lũ vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, trên 574 nghìn căn nhà cho hộ nghèo và các hộ gia đình chính sách, trên 13 nghìn căn nhà phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung; trên 111 nghìn lao động thuộc gia đình chính sách được vay vốn đi xuất khẩu lao động có thời hạn ở nước ngoài. TDCS đã góp phần tích cực trong việc thực hiện mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội. Góp phần đưa tỷ lệ hộ nghèo trong thời kì 2001 – 2005 giảm từ 17% xuống 7%; trong thời kỳ 2005 – 2010 giảm từ 22% xuống 9,45%, trong thời kỳ 2011-2015 giảm từ 14,2% xuống còn 4,5% và trong thời kỳ từ năm 2016-2018 giảm từ 10% xuống còn 5,35%. Đặc biệt đối với khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, NHCSXH đã tập trung nguồn vốn tín dụng ưu tiên đầu tư cho những khu vực này, góp phần quan trọng thực hiện giảm nghèo nhanh và bền vững.
TDCS đã giúp cho người nghèo và các đối tượng chính sách tự lực vươn lên: Hộ nghèo và các đối tượng chính sách đã được tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước, góp phần ngăn chặn tệ cho vay nặng lãi ở nông thôn. Hộ nghèo và các đối tượng chính sách được làm quen với việc vay, trả nợ ngân hàng, do đó đã thay đổi cơ bản về nhận thức từ việc được cấp phát, cho không chuyển sang đi vay vốn có hoàn trả. Hộ nghèo và các đối tượng chính sách biết chủ động tính toán làm ăn, sử dụng vốn có hiệu quả, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống, từng bước hòa nhập với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Thông qua hoạt động gửi tiền tiết kiệm của Tổ TK&VV, người nghèo và các đối tượng chính sách khác đã rèn luyện ý thức tiết kiệm, chắt chiu dành dụm tạo lập nguồn vốn tự có và tích lũy cho tương lai.
– Thứ ba, chất lượng TDCS của NHCSXH không ngừng được nâng cao. Công tác củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng được tập trung chỉ đạo trong toàn hệ thống. Được sự chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ của các cấp ủy đảng, chính quyền và các hội đoàn thể, đồng thời được Chính phủ ban hành cơ chế và cho phép xử lý nợ tồn đọng NHCSXH đã tích cực xử lý nợ đến hạn, nợ quá hạn, từng bước nâng cao chất lượng TDCS. Để không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng trong toàn hệ thống NHCSXH đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt và tập trung trước hết vào các tỉnh, thành phố thuộc khu vực có tỷ lệ nợ quá hạn cao.
Chất lượng tín dụng được cải thiện còn thể hiện ở việc tỷ lệ thu hồi vốn để cho vay quay vòng ngày càng tăng. Riêng chương trình tín dụng đối với HSSV, nhờ có chính sách ưu đãi giảm lãi tiền vay của Chính phủ đối với các hộ vay trả nợ trước hạn đã khuyến khích nhiều hộ vay tự nguyện trả nợ trước hạn và do NHCSXH tích cực thu hồi nợ đến hạn theo phân kỳ, cuối kỳ nên doanh số thu nợ ngày càng tăng, góp phần tạo nguồn vốn cho vay quay vòng và giảm áp lực huy động vốn cho NHCSXH.
– Thứ tư, NHCSXH đã thiết lập được mô hình tổ chức quản trị đặc thù, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Mô hình tổ chức quản trị của NHCSXH mang tính đặc thù, phù hợp với điều kiện, đặc điểm Việt Nam, đáp ứng yêu cầu tập trung mọi nguồn lực xã hội, tăng hiệu quả sử dụng vốn, thực hiện xã hội hoá hoạt động của NHCSXH. Trong gần 20 năm qua, HĐQT và Ban đại diện HĐQT các cấp đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc tham mưu giải quyết, bảo đảm kịp thời các nguồn vốn cho vay các chương trình TDCS và tạo điều kiện cho hoạt động của NHCSXH. Các thành viên HĐQT là đại diện của các cơ quan chủ quản các chương trình quốc gia, đã tích cực gắn kết giữa việc thực hiện các mục tiêu của chương trình quốc gia với hoạt động tín dụng của NHCSXH, góp phần nâng cao hiệu quả của chương trình.
– Thứ năm, NHCSXH đã xây dựng và tổ chức thực hiện thành công phương thức quản lý vốn TDCS đặc thù, sáng tạo của Việt Nam. Để chuyển tải vốn TDCS đúng đối tượng thụ hưởng, đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng, hỗ trợ tối đa cho người nghèo trong điều kiện phải tinh giản biên chế, tiết giảm chi phí quản lý, chi phí xã hội, NHCSXH đã thực hiện phương thức quản lý TDCS thông qua hình thức: (i) phân công, phân cấp trách nhiệm trong việc chọn và chỉ ra đối tượng chính sách thụ hưởng; thực hiện dân chủ, công khai trong cộng đồng dân cư; (iii) kết hợp sự tham gia của 04 tổ chức CT-XH với vai trò vừa là người giám sát xã hội vừa làm uỷ thác một số công việc trong quy trình nghiệp vụ TDCS.
– Thứ sáu, NHCSXH đã xây dựng được bộ máy điều hành tác nghiệp gọn nhẹ, hiệu lực, hiệu quả và hình thành cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, đảm bảo cho việc thực hiện các chương trình TDCS. Bộ máy này đã góp phần quản lý an toàn nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước, tổ chức cho vay trực tiếp đến người vay tại xã; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm uỷ thác, cho các Tổ trưởng Tổ TK&VV; thực hiện thành công phương pháp tác nghiệp đặc thù; thực thi các chính sách tín dụng và quản lý tài chính, chi tiêu tiết kiệm và đúng chế độ; hoàn chỉnh các quy trình nghiệp vụ, quy trình quản lý điều hành phù hợp với mô hình hoạt động và đối tượng phục vụ.
