Khái niệm
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp phải nỗ lực, phát huy tối đa các nguồn lực, tận dụng nhiều lợi thế nhằm duy trì và phát triển khả năng của mình trên thương trường. Các nỗ lực, các khả năng này thể hiện một sức mạnh nào đó của chủ thể trên thị trường, được gọi là năng lực cạnh tranh hay còn gọi là sức cạnh tranh hoặc khả năng cạnh tranh.
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và các yếu tố nội tại của mỗi doanh nghiệp có được. Năng lực cạnh tranh không chỉ được tính bằng các tiêu chí về tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị, công nghệ,… , năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường, gắn liền với thị phần mà doanh nghiệp đó nắm giữ.
Cho đến nay, khái niệm về năng lực cạnh tranh vẫn chưa được thống nhất. Dưới đây là một số định nghĩa về năng lực cạnh tranh:
Ý (1998) cho rằng “Năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh trong việc thực hiện cùng mục tiêu nào đó trên thị trường”.
Bản thân ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp chuyên kinh doanh lĩnh vực tiền tệ. Do vậy, năng lực cạnh tranh ngân hàng cũng có rất nhiều khái niệm và tác giả xin trích dẫn một số khái niệm như sau:
Nghiên cứu của Quyên (2014) cho rằng “Năng lực cạnh tranh ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và liên tục tăng cường những lợi thế của mình nhằm đạt được mức cao hơn mức trung bình về chất lượng sản phẩm, dịch vụ và/hoặc có khả năng giảm chi phí tương đối cho phép ngân hàng tăng được lợi nhuận, thị phần, mà vẫn đảm bảo hoạt động an toàn, lành mạnh”.
Nghiên cứu của Thụy (2015) khái niệm “Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng sử dụng, phối hợp các nguồn lực, khả năng nhằm duy trì và tạo ra lợi thế của mình so với đối thủ cạnh tranh để đạt được các mục tiêu đề ra trong môi trường kinh doanh luôn thay đổi”.
Trong nghiên cứu này, năng lực cạnh tranh của ngân hàng được định nghĩa như sau: “Năng lực cạnh tranh của ngân hàng chính là sức cạnh tranh do chính ngân hàng tạo ra dựa trên các cơ hội và lợi thế cạnh tranh trong điều kiện nguồn lực có giới hạn nhằm duy trì và phát triển, mở rộng thị phần, gia tăng tổng tài sản và ứng phó được những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh hoặc sức ép của lực lượng cạnh tranh ngân hàng”.
Cơ sở lý thuyết
Lý thuyết năng lực cạnh tranh theo định hướng thị trường (Market Orientation-MO)
Lý thuyết này cho rằng, để đạt được năng lực cạnh tranh các ngân hàng phải tập trung vào công việc để làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng, tạo ra ggias trị tốt hơn so với đối thủ và đạt được kết quả kinh doanh kỳ vọng.
Lý thuyết này bắt nguồn từ việc nhận định thông tin thị trường (Kohli và Jaworski, 1990), định về hành vi văn hóa doanh nghiệp (Day George, 1990), quan điểm định hướng khách hàng (Deshpandé và cộng sự, 1993), quan điểm dựa trên tính hệ thống (Becker và Homburg, 1999), quan điểm tổ chức phù thuộc vào yếu tố thị trường (Sinkula, 1994) và quan điểm dựa trên yếu tố mối quan hệ khách hàng (Baker và Sinkula, 1999).
Sinkula (1994) cho rằng, các ngân hàng đạt được năng lực cạnh tranh theo định hướng thị trường được phân biệt bởi khả năng sự kiện và xu hướng thị trường của họ trước đối thủ cạnh tranh. Họ có thể dự đoán chính xác hơn mức tập trung thị trường, cải thiện quan hệ mạng lưới giao dịch, hoặc ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh. Ngân hàng có thể hành động dựa trên thông tin thị trường kịp thời và chặt chẽ bởi các giả định về thị trường được chia sẻ rộng rãi (Day George, 1990; Day, 1994). Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc đạt được tính bền vững của lợi thế cạnh tranh. Các ngân hàng có khả năng thích ứng với sự biến động mạnh của thị trường và hành động sẽ phụ thuộc vào thông tin trên thị trường cung cấp để đạt được vị trí thuận lợi nhất từ đó giành được lợi thế cạnh tranh (Christensen, 2010; Day, 1994).
Cách tiếp cận lợi thế cạnh tranh dựa trên đa dạng hóa danh mục đầu tư, danh mục cho vay. Tuy nhiên, trong hầu hết các thị trường, sự cạnh tranh có thể dẫn tới sự sao chép các sản phẩm và dịch vụ, do đó làm giảm bớt giá trị của nó. Dẫn đầu về chi phí là một trong những lợi thế cạnh tranh có thể đạt được trong ngành (Porter, 1985). Các ngân hàng định hướng phát triển sản phẩm và dịch vụ có tầm cao hơn so với nhu cầu hiện tại của khách hàng nhằm khai thác triệt để các nhu cầu tiềm ẩn và đứng vững được trên thị trường theo theo gian (Slater và Narver, 1994).
Kohli và Jaworski (1990) cho thấy rằng, năng lực cạnh tranh theo định hướng thị trường là quá trình xem xét các thông tin thị trường có liên quan đến nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng từ đó để ứng phó với các cơ hội thị trường. Narver và Slater (1990) cho rằng, năng lực cạnh tranh theo định hướng thị trường là một trong các thành phần tạo nên văn hóa doanh nghiệp. Hay nghiên cứu của Kotller và Armstrong (2012) quan điểm rằng, doanh nghệp có lợi thế cạnh tranh hơn bằng cách tạo ra cho khách hàng giá trị vượt trội giá sản phẩm, mối quan hệ thân thiết với khách hàng, niềm tin và uy tín, .v.v….
Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh theo định hướng thị trường còn chú trọng đến hoạt động Marketing bởi có ảnh hưởng lớn tới chiến lược kinh doanh doanh nghiệp (Hunt và Morgan, 1995; Day, 1994)
Ủng hộ lý thuyết năng lực cạnh tranh theo định hướng thị trường còn có các nghiên cứu như (Deng và Dart, 1994; Green và Tull, 1970; Deshpandé và cộng sự, 1993)
Lý thuyết năng lực cạnh tranh dựa trên nguồn lực (Resource-based View -RBV)
Lý thuyết năng lực cạnh tranh dựa trên nguồn lực được khởi xướng bởi Lippman và Rumelt (1982), về sau được phát triển bởi Miller và Shamsie (1996) và Markides và Williamson (1996) và Barney (1991) cho rằng các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường thể hiện cạnh tranh độc quyền có tính đồng nhất về nguồn lực và chiến lược kinh doanh mà họ sử dụng.
Ngành ngân hàng, cạnh tranh độc quyền các NHTM vẫn chú trọng vào mục tiêu gia tăng tối đa lợi nhuận kinh doanh thông qua việc xác định doanh thu biên bằng chi phí biên như thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Tuy nhiên, nếu thành công ngân hàng sẽ thu về khoản lợi nhuận vượt trội. Vì vậy, ngành ngân hàng thì yếu tố cơ cấu ngành ảnh hưởng lớn đến chiến lược khác biệt hóa của các ngân hàng trong việc xác định chiến lược cạnh tranh.
Lý thuyết cạnh tranh dựa vào nguồn lực của doanh nghiệp đã đề cao vai trò của yếu tố nguồn lực nội tại của doanh nghiệp sở hữu khi xây dựng chiến lược kinh doanh.
Trong hệ thống ngành ngân hàng, các NHTM không thể dễ dàng bắt chước chiến lược cạnh tranh của đối thủ bởi vì chiến lược kinh doanh được xây dựng dựa vào chính nguồn lực nội tại của mình đó là vốn, quy mô, năng lực quản trị, thị phần hiện có,….
Cách tiếp cận cạnh tranh dựa trên nguồn lực nôi tại có mục tiêu phân loại các hình thức khác nhau của nguồn lực và mục tiêu các nguồn lực sở hữu liên kết với nhau để hình thành và tạo ra những lợi thế trong cạnh tranh thông qua việc so sánh các nguồn lực của đối thủ trên thị trường (Makadok, 2001).
Barney (1991) cho rằng, doanh nghiêp có năng lực cạnh tranh cao hơn so với đối thủ phải thỏa mãn điều kiện về giá sản phẩm, tính khan hiếm, khó sao chép và mang tính duy nhất khác biệt. Các nguồn lực này sẽ mang đến nhiều thuận lợi trong cạnh tranh doanh nghiệp, tạo ra thế mạnh cho doanh nghiệp thực hiện chiến lược kinh doanh, cải thiện năng suất và hiệu quả hoạt động. Nhờ đó mà doanh nghiệp có cơ hội trong cạnh tranh đồng thời né tránh được các nguy cơ đe dọa hiện hữu trong môi trường cạnh tranh.
Tuy nhiên, có những quan điểm giả định rằng doanh nghiệp có thể có lợi nhuận trong thị trường có tính cạnh tranh cao nhưng miễn là nó có thể khai thác các nguồn lực thuận lợi mà không nhất thiết phải các điều kiện trên (Lippman và Rumelt, 1982). Trong môi trường kinh doanh hiện nay, ngoài sự khác biệt về các nguồn lực, doanh nghiệp còn tập trung vào khả năng phối hợp và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu chiến lược kinh doanh đã đề ra (Sanchez và Heene, 1996). Áp dụng trong hệ thống NHTM, để cạnh tranh được với đối thủ, năng lực cạnh tranh cao không chỉ đề cao đến yếu tố nguồn lực nội tại mà không đề cập đến các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh, những áp lực cạnh tranh của ngành. Đây là hạn chế của lý thuyết.
Lý thuyết năng lực cạnh tranh dựa trên năng lực
Quan điểm năng lực cạnh tranh dựa trên năng lực của doanh nghiệp tức là tập trung vào khả năng sử dụng kết hợp giữa tài sản nội tại và năng lực nhằm đạt được tăng trưởng và hiệu quả tổng ther của doanh nghiệp. Lý thuyết này được xây dựng bởi các nghiên cứu của Barney (1991) và nghiên cứu của Sanchez và Heene (1996). Nổi bật trong quan điểm nền tảng năng lực là giả định rằng môi trường doanh nghiệp là năng động và do vậy yêu cầu phải xây dựng năng lực và tận dụng năng lực liên tục để duy trì lợi thế cạnh tranh (Sanchez và Heene, 1996). Năng lực là khả năng duy trì, triển khai, phối hợp các nguồn lực và khả năng theo cách giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu trong những bối cảnh cạnh tranh (Sanchez và Heene, 1996).
Năng lực cạnh tranh được tạo ra bằng cách thêm khả năng (khả năng tài chính, khả năng quản trị, Marketing, .v.v…) phối hợp nguồn lực sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh và cho phép các doanh nghiệp đạt được mục tiêu chiến lược của mình (Hubbard và cộng sự, 2008; Sanchez và Heene, 1996).
Năng lực là tiền đề tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp. Nó phản ánh trực tiếp bản chất cấu trúc nguồn lực của doanh nghiệp theo thời gian. Điều này phù hợp với nghiên cứu của Barney (1991) cho rằng môi trường kinh doanh thay đổi liên tục thì các nguồn lực của doanh nghiệp cũng bị thay đổi theo. Do đó, về lâu dài, sự phù hợp về các mối quan hệ có tính hệ thống nguồn lực và sự kết hợp của các nguồn lực đó là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Sanchez và Heene, 1996; Galunic và Rodan, 1998).
Phương pháp đo lường
Năng lực cạnh tranh được tiếp cận bằng nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp cấu trúc thị trường và phương pháp phi cấu trúc thị trường. Đây là hai phương pháp được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu thực nghiệm về sức cạnh tranh ngân hàng (Carbó và cộng sự, 2009).
Phương pháp cấu trúc thị trường (Market structures)
Cách tiếp cận này, đo lường năng lực cạnh tranh theo kiểu truyền thống, nghĩa là năng lực cạnh tranh được đo lường thông qua việc xác định mức độ tập trung thị trường. Khơi nguồn cho quan điểm này, Mason (1939) sử dụng mức tập trung thị trường để đánh giá năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Theo phương pháp này, năng lực cạnh tranh đươc đo lường thông qua việc phân tích mức độ tích tụ thị trường từ tỷ lệ tập trung k ngân hàng so với toàn ngành qua chỉ số CRk hoặc chỉ số HHI (Herfindahl-Hirschman).
Chỉ số CRk (Conghiên cứuentration ratio)
Chỉ số tập trung thị phần (CRk) là tổng thị phần của nhóm ngân hàng lớn trên thị trường.
Ưu điểm của chỉ số này là tính toán giản đơn, số lượng dữ liệu không nhiều. Tuy nhiên, thông thường chỉ số này được áp dụng cho k ngân hàng (từ 03 ngân hàng trở lên) có quy mô tổng tài sản lớn nhất tùy thuộc vào quy mô thị trường và thị trường được kiểm soát bởi một số ít các ngân hàng lớn (Bikker và Haaf, 2002).
Công thức đo lường mức độ tích tụ của thị trường như sau:
CR_(k )= ∑_(i=1)^k▒Si
Trong đó, CR là chỉ số tích tụ của thị trường, Si là thị phần của ngân hàng thứ i, k là số lượng ngân hàng trong nhóm có quy mô tổng tài sản lớn.
Chỉ số này càng cao thể hiện mức độ tích tụ của thị trường càng lớn và quyền lực thị trường sẽ tập trung vào nhóm ngân hàng này. Chỉ số này nằm trong khoảng giá trị từ 0% đến 100%. Tuy nhiên, trong ngành nếu có n ngân hàng như nhau về quy mô thì CRk được xác định như sau:
CR_(k )= ∑_(i=1)^k▒〖Si 〗= ∑_(i=1)^k▒□(1/n)= k/n
Dựa vào mức độ tập trung thông qua chỉ số CRk, có thể phân loại thị trường thành các dạng sau:
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo, tỷ lệ CRk rất nhỏ.
Thị trường cạnh tranh tương đối, chỉ số CRk nhỏ hơn 65% và thị trường tập trung ở mức trung bình. ¬¬¬¬¬
Độc quyền nhóm hoặc có vị trí thống lĩnh thị trường chỉ số CRk lớn hơn 65% và thị trường có mức tập trung cao.
Độc quyền thì chỉ số CRk xấp xỉ 100%.
Chỉ số HHI (Herfindahl- Hirschman)
Chỉ số HHI được sử dụng để đo lường quy mô của ngân hàng trong mối tương quan với ngành. Đây là chỉ số đo lường mức cạnh tranh giữa các ngân hàng trong ngành và thường được tính bằng tổng bình phương thị phần của ngân hàng trong toàn ngành. Công thức tính như sau:
HHI = ∑_(i=1)^n▒MSi^2
Trong đó, MSi2 là tổng bình phương thị phần của ngân hàng i, n là tổng số ngân hàng trong ngành hoạt động trên thị trường. Ngoài cách tính trên, chỉ số HHI còn được tính toán bằng công thức sau:
HHI= 1/n +nV
Trong đó, V là phương sai thống kê thị phần của ngân hàng và được xác định bởi công thức sau:
V= (∑_(i=1)^n▒〖(S_(i )- 1/n )〗^2 )/n
Theo Hart (1975), trường hợp không thể tính toán được số lượng chính xác các ngân hàng cũng như quy mô, chỉ số HHI có thể tính theo công thức:
HHI= 〖(μ〗_0^(2 ) +1)n
trong đó 〖μ_0〗^2 là hệ số biến đổi ở phân phối ban đầu.
Dựa vào mức độ tập trung của thị trường qua chỉ số HHI, có thể phân loại thị trường cạnh tranh ở các dạng như sau:
Giá trị chỉ số HHI nhỏ hơn 0,01 là thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
Giá trị chỉ số HHI nằm trong khoảng từ 0,01 đến 0,1: thị trường có mức cạnh tranh cao.
Giá trị chỉ số HHI nằm trong khoảng từ 0,1 đến 0,18: thị trường cạnh tranh mức trung bình.
Cuối cùng, giá trị chỉ số HHI lớn hơn 0,18: thị trường cạnh tranh cao và có xu hướng độc quyền (Florian, 2014).
Ưu điểm của chỉ số HHI là tính toán đơn giản, dữ liệu được tính toán ở cấp doanh nghiệp, dữ liệu liên quan đến thị trường, địa lý hay sản phẩm.
Hạn chế của đo lường cạnh tranh theo cách tiếp cận cấu trúc thị trường là khá thô sơ, bỏ qua các ngân hàng có sở hữu khác nhau sẽ có hành vi cạnh tranh khác nhau và có thể không cạnh tranh trực tiếp với nhau trong cùng một ngành kinh doanh.
Ngoài ra, mối quan hệ giữa mức tập trung thị trường và hiệu suất ngân hàng không hoàn toàn tích cực, điều này được thể hiện qua các nghiên cứu trước như (Anzoátegui và cộng sự, 2012; Jackson III, 1992), mức tích tụ thị trường làm thước đo năng lực cạnh tranh là không đáng tin cậy (Cetorelli, 1999; Fernandez de Guevara và cộng sự, 2005). Chính vì thế, năng lực cạnh tranh ngân hàng được đo lường theo cách tiếp cận phi cấu trúc thị trường ra đời để khắc phục hạn chế của quan điểm trên.
Phương pháp phi cấu trúc thị trường
Theo quan điểm này, sức cạnh tranh được đo lường phụ thuộc vào mô hình của tổ chức công nghiệp thực nghiệm mới (New Empirical Industrial Organization-NEIO). Sức cạnh tranh được đo lường trực tiếp bởi hành vi cạnh tranh của các ngân hàng, bỏ qua việc phân tích cấu trúc thị trường (Degryse và cộng sự, 2009), nghĩa là đo lường sức cạnh tranh dựa vào mô hình lý thuyết về giá cả và xác định đầu ra. Tiêu biểu cho phương pháp đo lường này là các thang đo sử dụng biến phỏng đoán (Lau, 1982), chỉ số thống kê H (Panzar và Rosse, 1987), chỉ số Lerner (Lerner, 1934) và chỉ số Boone (Boone, 2008).
Chỉ số thống kê H được sử dụng để xác định thị trường cạnh tranh (thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh độc quyền, thị trường độc quyền và thị trường độc quyền nhóm). Sức cạnh tranh của các ngân hàng được đánh giá qua tổng doanh thu có được và phụ thuộc vào sự thay đổi bởi giá cả (Vesala, 1995; Weill, 2013).
Từ phương trình ước lượng tổng doanh thu trên, việc xác định chỉ số thống kê H bằng cách tính tổng dộ co giản của doanh thu theo giá đầu vào qua công thức như sau:
Chỉ số này có ưu điểm là tính toán đơn giản, phương trình ước lượng đơn, đánh giá chính xác về mức độ cạnh tranh của thị trường và dữ liệu dễ dàng có sẵn. Tuy nhiên, chỉ số này yêu cầu thông tin về giá rõ ràng và có thể bị che lấp bởi sức mạnh độc quyền trên thị trường.
P được gọi là giá đầu ra và được tính bằng tổng doanh thu trên tổng tài sản (Carbó và cộng sự, 2009; Fernvàez de Guevara và cộng sự, 2005).
MC là chi phí cận biên của ngân hàng
i là ngân hàng, t là thời gian.
Chi phí biên của ngân hàng không thể quan sát được trực tiếp (Fu và cộng sự, 2014; Koetter và cộng sự, 2008). Vì thế, chi phí biên (MC) của ngân hàng được tính toán thông qua việc ước lượng hàm số tổng chi phí theo trình tự hai bước, cụ thể:
trong đó, TC là tổng chi phí và được xác định bởi chi phí lãi tiền vay và chi phí phi lãi tiền vay; TA là tổng giá trị tài sản; wj=1,3 là giá đầu vào, bao gồm w1 được gọi là giá vốn tiền gửi và được tính bằng tỷ lệ chi phí lãi tiền vay trên tổng tiền gửi của khách hàng; w2 là giá vốn vật chất được tính bằng tỷ lệ giữa chi phí phi lãi tiền vay trên tổng tài sản cố định, w3 là giá vốn lao động được tính bằng tỷ lệ giữa chi phí lao động trên tổng tài sản. Trend là sự thay đổi công nghệ ngân hàng; ε là sai số ngẫu nhiên; α1-20 là các tham số ước lượng.
Hàm số tổng chi phí (2) được ước lượng thông qua phương pháp hồi quy tác động cố định và phương pháp hồi quy tác động ngẫu nhiên, tiếp theo tác giả thực hiện kiểm định Hausman để lựa chọn phươgn pháp ướcl ượng cho phương trình.
(Sau khi ước lượng hàm tổng chi phí, tác giả thực hiện tính chi phí biên bằng cách lấy đạo hàm bậc nhất từ phương trình của hàm tổng chi phí (2) và được xác định như sau:
Giá trị Lerner bằng 1 cho thấy rằng thị trường độc quyền tồn tại, bằng 0 là thị trường cạnh tranh hoàn hảo và mang giá trị âm ngụ ý giá nhỏ hơn chi phí biên, có thể ngân hàng không nằm trong phạm vi yêu cầu của nền kinh tế thị trường và được sự hỗ trợ bởi Chính phủ.
Giá trị chỉ số Lerner càng cao, gợi ý rằng thị trường ngân hàng cạnh tranh càng yếu, quyền lực thị trường của các ngân hàng càng mạnh, tức năng lực cạnh canh càng cao (Ariss, 2010).
Chỉ số Lerner có ưu điểm là giải thích dữ liệu rõ ràng minh bạch, số lượng quan sát không yêu cầu quá lớn, được tính toán theo từng năm và cho từng ngân hàng có hình thức sở hữu khác nhau. Tuy nhiên, chỉ số Lerner chỉ đo lường năng lực cạnh tranh từng ngân hàng và yêu cầu thông tin dữ liệu về giá rõ ràng.
Chỉ số Boone
Chỉ số Boone thể hiện phương thức đo lường mới về năng lực cạnh tranh, đánh giá sự phát triển năng lực cạnh tranh của ngân hàng theo thời gian và được tính toán qua công thức sau:
Lnπ_(i,t)=α+βlnMC_(i,t)+ε_(i,t)
trong đó, πi,t là lợi nhuận ngân hàng i trong thời gian t, MCi,t là chi phí cận biên ngân hàng i vào thời gian t và β là chỉ số Boone.
Chỉ số Boone luôn mang giá trị âm, cho nên giá trị chi phí biên của ngân hàng càng cao, lợi nhuận càng nhỏ. Ngoài ra, chỉ số này còn mang ý nghĩa khác, đó là giá trị tuyệt đối của chỉ số này càng lớn, thị trường ngân hàng cạnh tranh càng cao, quyền lực thị trường của ngân hàng càng yếu, tức năng lực cạnh tranh càng thấp.
Nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh
Các nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài
Nghiên cứu của Maudos và Nagore (2005) sử dụng dữ liệu của các NHTM ở 58 quốc gia cả phát triển và đang phát triển trên toàn cầu, giai đoạn 1995-1999 để đo lường năng lực cạnh tranh ngân hàng và làm rõ các nhân tố tác động lên năng lực cạnh tranh ngân hàng. Nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng, các yếu tố đặc trưng ngân hàng đều ảnh hưởng ở mức đáng kể và có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê lên năng lực cạnh tranh. Đặc biệt mô mô ngân hàng ảnh hưởng mạnh lên năng lực cạnh tranh ngân hàng. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng tìm thầy yếu tố thuộc cấu trúc thị trường và cấu trúc tài chính đều ảnh hưởng lên năng lực cạnh tranh ngân hàng. Trong khi đó, yếu tố kinh tế vĩ mô và điều lệ hoạt động không ảnh hưởng lên năng lực cạnh tranh của các ngân hàng này.
Nghiên cứu của Demirgüç-Kunt và Martínez Pería (2010) phân tích năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại ở Jordan, giai đoạn 1994-2006. Bằng cách tiếp cận đa chiều, nghiên cứu phân tích mức độ cạnh tranh thị trường thông qua các hạn chế xâm nhập thị trường ngành, đánh giá sự thay đổi về khoảng cách hành vi cạnh tranh của mỗi ngân hàng khi sử dụng thang đo lường cạnh tranh bằng chỉ số thống kê H và chỉ số Lerner. Bên cạnh đó, nghiên cứu phân tích sự tác động của đổi mới công nghệ dẫn đến thay đổi tổng chi phí của ngân hàng theo thời gian. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm, mặc dù mức tập trung thị trường trong hệ thống ngân hàng có giảm nhưng năng lực cạnh tranh của các ngân hàng này vẫn ở mức thấp và giảm dần theo thời gian.
Anzoategui và cộng sự (2010) thu thập dữ liệu của các ngân hàng ở Trung Đông và Bắc Phi (MENA), giai đoạn 1994-2008 để nghiên cứu năng lực cạnh tranh ngân hàng và sử dụng là chỉ số thống kê H và chỉ số Lerner làm thang đo. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng, năng lực cạnh tranh của các ngân hàng ở MENA là thấp và không được cải thiện theo thời gian. Ngoài ra, nghiên cứu còn khẳng định, ở các quốc gia có công ty tài chính với quy mô càng lớn, thị trường cạnh tranh càng cao hơn.
Fungáčová và cộng sự (2010) sử dụng chỉ số Lerner để đo lường và phân tích năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại ở Nga, giai đoạn 2001-2007. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, năng lực cạnh tranh của các ngân hàng ở Nga chỉ tăng nhẹ. Tuy nhiên, giá trị trung bình của chỉ số Lerner ở các ngân hàng thương mại Nga (0,214) ngang bằng với chỉ số Lerner của các ngân hàng thương mại ở các nước phát triển, có nghĩa rằng ngành ngân hàng ở Nga cạnh tranh không quá kém. Hơn nữa nghiên cứu khẳng định rằng, loại hình sở hữu nhà nước hay sở hữu 100% vốn nước ngoài đều không ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Điều này có nghĩa rằng, năng lực cạnh tranh không phụ thuộc vào loại hình sở hữu. Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy, năng lực cạnh tranh ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như mức tập trung thị trường, rủi ro và quy mô ngân hàng khi tăng/giảm.
Simpasa (2010) sử dụng chỉ số Lerner để đo lường và phân tích năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại ở Zambia-Châu Phi, giai đoạn 1998-2011. Sử dụng phương pháp ước lượng tác động cố định và phương pháp momen tổng quát hệ thống, nghiên cứu cho thấy năng lực canhjt ranh của các ngân hàng thương mại ở Zambia được thực hiện bằng cách thiết lập giá. Ngoài ra, nghiên cứu còn khẳng định rằng, yếu tố mức độ tập trung thị trường, đa dạng hóa thu nhập và yếu tố điều lệ hoạt động đều có mối tương quan thuận với với năng lực cạnh tranh ngân hàng. Tuy nhiên nghiên cứu cho thấy, năng lực cạnh tranh ngân hàng và các yếu tố kinh tế vĩ mô không tương quan nghịch biến với nhau.
Nghiên cứu của Soedarmono và cộng sự (2011) sử dụng phương pháp hối quy bình phương nhỏ nhất để đánh giá năng lực cạnh tranh trong hệ thống ngành ngân hàng, tăng trưởng kinh tế và ổn định tài chính tại các quốc gia Châu Á: Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Pakistan, Philippines, Hàn Quốc, Srilanka, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam. Chỉ số thống kê H được sử dụng làm thang đo lường năng lực cạnh tranh. Nghiên cứu này khẳng định rằng, những ngân hàng có mức vốn chủ sở hữu càng lớn thì khả năng cạnh tranh trên thị trường càng cao. Tuy nhiên, tại các thị trường ít cạnh tranh, mặc dù mức vốn chủ cao cũng không đủ khả năng để đối phó với những rủi ro đạo đức xảy ra, đây là bắt nguồn nguy cơ phá sản của các ngân hàng. Ngoài ra, nghiên cứu cung cấp thêm bằng chứng, các yếu tố như vốn hóa, lạm phát, tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi, tăng trưởng dư nợ và tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng doanh thu đều tác động tích cực lên năng lực cạnh tranh ngân hàng. Trong khi đó, yếu tố luật pháp tác động tiêu cực lên năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Nghiên cứu của Delis (2012) phân tích năng lực cạnh tranh, cải cách tài chính và thể chế hoạt động của các NHTM ở 84 quốc gia có nền kinh tế phát triển và đang phát triển, giai đoạn 1987-2005. Thang đo Lerner được sử dụng trong nghiên cứu này để đo lường năng lực cạnh tranh. Bằng phương pháp hồi quy mô men tổng quát hệ thống (GMM), kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng rằng, yếu tố quy mô, vốn ngân hàng, tập trung thị trường, tăng trưởng GDP và lạm phát tác động tích cực lên năng lực cạnh tranh ngân hàng. Tuy nhiên, yếu tố cải cách hành chính, minh bạch tài chính, sự quan liêu, GDP bình quân đầu người ảnh hưởng tiêu cực lên năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Adjei-Frimpong (2013) sử dụng dữ liệu của các NHTM ở Ghana, giai đoạn 2001-2010 để phân tích năng lực cạnh tranh ngân hàng. Thực hiện phương pháp hồi quy mô men tổng quát hệ thống hai giai đoạn để ước lượng các yếu tố ảnh hưởng lên năng lực cạnh tranh ngân hàng, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, duy nhất yếu tố độ trễ của năng lực cạnh tranh ảnh hưởng tích cực lên năng lực cạnh tranh ngân hàng ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Yếu tố vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tiêu cực lên năng lực cạnh tranh ngân hàng. Điều này cho thấy rằng, mức vốn chủ sở hữu cao ở các ngân hàng đảm bảo khả năng tài chính, giữ được thị phần trước sự cạnh tranh cao trên thị trường, nhất là sự thâm nhập vào thị trường tài chính của các ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên, dưới góc độ quản trị kém, mặc dù vốn chủ cao, các ngân hàng vẫn không đảm bảo được sự an toàn về vốn, dẫn đến hiệu quả kém trong việc phân bổ và quản trị vốn, tạo thế ỳ trong hoạt động ngân hàng, không kích thích phát huy năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Bên cạnh đó, yếu tố còn lại như doanh thu phí, và các yếu tố kinh tế vĩ mô không ảnh hưởng lên năng lực cạnh tranh ngân hàng.
Ở phương diện thị phần cho vay, sử dụng phương pháp hồi quy mô men tổng quát hệ thống hai giai đoạn, nghiên cứu của Khan và cộng sự (2016) ước lượng và phân tích năng lực cạnh tranh ngân hàng trong sự tác động của chính sách tiền tệ ở 05 nước khu vực Đông Nam Á, đó là Malaysia, Indonesia, Singapore, Philippines và Thái Lan, từ năm 1999 đến 2014. Bốn chỉ số gồm CR5, HHI, Lerner và Boone được sử dụng trong nghiên cứu để đo lường năng lực cạnh tranh ngân hàng. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, năng lực cạnh tranh ngân hàng được đo lường qua thang đo CR5, HHI và Lerner bị suy khi các khoản cho vay chịu sự ảnh hưởng nhẹ từ chính sách tiền tệ. Ngược lại, năng lực cạnh tranh ngân hàng đo lường qua thang đo chỉ số Boone bị suy giảm mặc dù các khoản cho vay chịu sự tác động mạnh từ chính sách tiền tệ.
Các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam
Sử dụng mô hình CAMELS, nghiên cứu của Nhạn (2015) phân tích năng lực cạnh tranh của các ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Nghiên cứu cung cấp bằng chứng rằng, yếu tố hệ thống kinh doanh cốt lõi và công nghệ, yếu tố quy mô ngân hàng và mô hình tổ chức kinh doanh, yếu tố tiềm lực tài chính, yếu tố khả năng sinh lời, yếu tố chất lượng nguồn nhân lực, yếu tố thương hiệu thị phần, và yếu tố dịch vụ ngân hàng là những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của các ngân hàng này. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa lượng hóa được mức tác động của từng yếu tố lên năng lực cạnh tranh ngân hàng. Mặt khác, dữ lliệu của nghiên cứu này chỉ tập trung ở ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam nên không đủ sức ảnh hưởng cho toàn hệ thống NHTM Việt Nam.
Ở góc độ quan điểm quản trị ngân hàng, nghiên cứu của Thụy (2015) phân tích “Ảnh hưởng của các nhân tố năng lực cạnh tranh đến kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, yếu tố khả năng quản trị, yếu tố khả năng marketing, yếu tố khả năng tài chính, yếu tố khả năng đổi mới sản phẩm dịch vụ, yếu tố khả năng tổ chức phục vụ và yếu tố khả năng quản trị rủi ro là những yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh ngân hàng. Tương tự nghiên cứu của Nhạn (2015), nghiên cứu đánh giá năng lực cạnh tranh từ quan điểm quản trị cuar các nhà quản trị ngân hàng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, chưa phân tích năng lực cạnh tranh ngân hàng từ góc độ khách hàng hay chưa phân tích năng lực cạnh tranh từ những đặc trưng hoạt động của các ngân hàng.
Dựa trên cách tiếp cận khách hàng, Anh (2016) nghiên cứu nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn Hà Nội. Có 06 yếu tố được nghiên cứu thiết lập để phân tích sự cấu thành năng lực cạnh tranh ngân hàng bao gồm yếu tố mạng lưới hoạt động, yếu tố xúc tiến thương mại, yếu tố trí tuệ, yếu tố tiềm lực tài chính, yếu tố chất lượng dịch vụ cung ứng, yếu tố uy tín và yếu tố chất lượng công nghệ ngân hàng. Nghiên cứu khẳng định rằng, cả 05 yếu tố đều ảnh hưởng tích cực lên năng lực cạnh tranh ngân hàng, ngoại trừ yếu tố chất lượng dịch vụ. Nghiên cứu này có điểm hạn chế là chỉ thực hiện trong phạm vi nghiên cứu hẹp (các NHTM bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội). Bên cạnh đó, nghiên cứu chưa đánh giá năng lực cạnh tranh trên theo đặc trưng hoạt động của ngân hàng hay theo cấu trúc cấu trúc hệ thống ngân hàng.
Bằng phương pháp ước lượng GMM hệ thống, nghiên cứu của Tuyền (2018) phân tích “Tác động của cạnh tranh tới sự ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam”, giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2016. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại khá thấp trong giai đoạn khủng khoảng tài chính toàn cầu từ năm 2007 đến 2008. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lực cạnh tranh ngân hàng chịu sự ảnh hưởng tích cực bởi yếu tố vốn chủ sở hữu, yếu tố dư nợ cho vay, yếu tố quản trị chi phí, yếu tố quy mô ngân hàng, yếu tố tăng trưởng kinh tế và yếu tố lạm phát. Tuy nhiên, nghiên cứu này cho rằng, năng lực cạnh tranh chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi yếu tố tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE). Nghiên cứu này có hạn chế đó mẫu quan sát nhỏ, chỉ phân tích năng lực cạnh tranh ngân hàng trên góc độ cấu trúc hoạt động và chưa xem xét năng lực cạnh tranh ngân hàng trong điều kiện trước và sau sáp nhập.
Ái và cộng sự (2019) nghiên cứu “Tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh”. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định sự ảnh hưởng của các yếu tố lên năng lực cạnh tranh nhằm gợi ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng, các yếu tố ảnh hưởng lên năng lực cạnh tranh theo thứ tự giảm dần, bao gồm năng lực tài chính, chất lượng dịch vụ tài chính ngân hàng, năng lực quản trị điều hành, nguồn nhân lực và năng lực công nghệ. Bên cạnh kết quả đạt được, nghiên cứu còn có những hạn chế đó là, thời gian và nguồn lực nghiên cứu còn hẹp nên chưa bao quát toàn bộ hệ thống NHTM. Ngoài ra, nghiên cứu chưa phân tích năng lực cạnh tranh theo hành vi cạnh tranh của từng ngân hàng thông qua đặc trưng hoạt động hay cấu trúc hoạt động của ngân hàng.
MÃ ĐỀ TÀI 018
