- Khái niệm giáo dục đại học
Như đã thảo luận ở trên, trong phân cấp giáo dục thì giáo dục đại học là một cấp học quan trọng trong hệ thống giáo dục của tất cả các quốc gia hiện đại. Theo các quy định hiện hành của Luật giáo dục Đại học tại Việt Nam quy định giáo dục đại học như sau:
Luật Giáo dục có nêu: Điều 38: “Các trình độ đào tạo giáo dục đại học: Giáo dục đại học đào tạo trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ”. Điều 39: “Mục tiêu của giáo dục đại học:
- Đào tạo nhân lực trình độ cao, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học và công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế.
- Đào tạo người học phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ; có tri thức, kỹ năng, trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng nắm bắt tiến bộ khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo, khả năng tự học, sáng tạo, thích nghi với môi trường làm việc; có tinh thần lập nghiệp, có ý thức phục vụ Nhân dân”.
Điều 4 Luật Giáo dục Đại học đề cập “Cơ sở giáo dục đại học là cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng” hay “Đại học là cơ sở giáo dục đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều lĩnh vực, được cơ cấu tổ chức theo quy định của Luật này; các đơn vị cấu thành đại học cùng thống nhất thực hiện mục tiêu, sứ mạng, nhiệm vụ chung” chứ chưa hề có nhắc đến định nghĩa giáo dục đại học.
Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã nêu các khái niệm về giáo dục đại học: Nguyễn Bá Cần (2009) cho rằng “Giáo dục đại học là bậc sau cùng trong hệ thống giáo dục và đào tạo của mỗi nước; đào tạo đội ngũ lao động lành nghề, bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia, kỹ sư và những cán bộ chuyên môn kỹ thuật ở các trình độ khác nhau. Giáo dục đại học không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và vì vậy, không trực tiếp tạo ra các sản phẩm vật chất”. Vũ Thị Thanh Thúy (2012), “đào tạo đại học là bậc đào tạo để cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước phục vụ sứ mệnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Phạm Thị Hồng Yến và Lê Thị Thu Hà (2015) đưa ra kết luận “giáo dục đại học là giáo dục ở các cấp bậc sau phổ thông trung học, là một quá trình tổ chức có ý thức nhằm cung cấp tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, khuyến khích con người có năng lực tự học, nghiên cứu, ứng dụng, sáng tạo và thích nghi với môi trường làm việc.
Đối tượng các của nghiên cứu này là các chương trình du học tại chỗ trình độ đại học là một phần của hoạt động giáo dục đại học. Để thống nhất cách hiểu, nghiên cứu tiếp cận giáo dục đại học là một bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam bao gồm đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ.
- Giáo dục đại học là dịch vụ và sinh viên là khách hàng
Quá trình thị trường hóa giáo dục đã bắt đầu từ những thập kỷ 1970 (Kuroda và cộng sự, 2010) và đã trở thành một dịch vụ bất chấp các nỗ lực mô tả nó như một sản phẩm hay tổ chức (Hemsley‐Brown & Oplatka, 2006). Giáo dục cũng như các dịch vụ khác có tính không đồng nhất, vô hình, không thể tách rời giữa sản xuất và tiêu thụ (Kotler & Fox, 1995; Stanton, 1974). Một số học giả nhấn mạnh rằng tổ chức giáo dục đại học đòi hỏi sự liên hệ lớn giữa các cá nhân, phức tạp hơn, phân tách nhiều hơn và có tính tùy biến hơn so với các tổ chức cung cấp dịch vụ khác (Patterson, 1998). Bởi vậy, phần lớn các các thuộc tính về chất lượng của giáo dục đại học không thể được cảm nhận, trải nghiệm hoặc kiểm tra trước khi quá trình sử dụng dịch vụ diễn ra (Edgett & Parkinson, 1993). Quan điểm hiện đại xem giáo dục đại học như một dịch vụ đặc biệt, dịch vụ mang tính trải nghiệm (Lewis & Mitchell, 1990) và có rất ít các thuộc tính hữu hình có thể đánh giá trước khi mua. Những người sử dụng dịch vụ tiềm năng có thể tìm kiếm các khía cạnh khác nhau để đánh giá và so sánh dịch vụ từ các nhà cung cấp khác nhau thông qua cơ chế truyền thông tin của các nhà cung cấp dịch vụ (Johns & Howard, 1998; Spence, 1973, 2002).
Với quan điểm giáo dục đại học là một loại dịch vụ đã dẫn đến việc cạnh tranh với nhau giữa các trường đại học, các chương trình đào tạo trong việc tiếp cận người dùng tiềm năng (sinh viên ghi danh). Các hình thức marketing các chương trình đào tạo ngày càng được sử dụng phổ biến để tiếp cận người dùng, cố gắng hiểu các yếu tố chính ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn chương trình để đưa ra các chiến lược marketing thích hợp tạo lợi thế cạnh tranh trong thị trường giáo dục đại học ngày càng có tính cạnh tranh cao (Altbach & Levy, 2005; Lovelock & Wirtz, 2011).
Quá trình thị trường hóa và xem giáo dục đại học như một dịch vụ dẫn đến quan niệm học sinh, sinh viên những người ghi danh hoặc quan tâm đến chương trình đào tạo như một khách hàng tiềm năng. Bản chất của việc thu hút sinh viên ghi danh vào trường/chương trình là một quá trình marketing dịch vụ, tập trung vào việc tạo ra các lời hứa về dịch vụ và giá trị cảm nhận được của sinh viên với dịch vụ (Kusumawati và cộng sự, 2010). Tính vô hình của dịch vụ khiến cho việc đánh giá chương trình và lựa chọn chương trình đại học trở nên khó khăn với người tiêu dùng bởi vì người tiêu thụ dịch vụ thường liên kết của tính vô hình với mức độ rủi ro cao (Harvey, 1996;
Srikatanyoo & Gnoth, 2002). Tính vô hình cũng cản trở việc truyền thông dịch vụ tới khách hàng và làm cho việc đánh giá dịch vụ giáo dục trở nên khó khăn hơn (Mazzarol, 1998). Bởi vậy, giáo dục đại học bị ràng buộc bởi các nhân tố đánh giá phức tạp để xem xét, ra quyết định của người tiêu dùng với việc lựa chọn chương trình học. Người học nhận được một gói dịch vụ bao gồm các dịch vụ cốt lõi (chương trình học) và các dịch vụ hỗ trợ (các tiện ích cung cấp trong quá trình học).
Quan niệm về thị trường hóa giáo dục và coi giao dục đại học như một hình thức dịch vụ đặc thù đã dẫn đến quan điểm cho rằng sinh viên là khách hàng của hệ thống giáo dục (Eagle & Brennan, 2007). Các lập luận cho rằng khi sinh viên trả học phí, họ trở thành người tiêu dùng các dịch vụ giáo dục đại học (Kanji và cộng sự, 1999; Nicolescu, 2009) và bởi thế họ nên được đối xử như một khách hàng của quá trình cung cấp dịch vụ (Brochado, 2009; de Jager & Gbadamosi, 2013). Điều này lại dẫn đến việc quan niệm việc thu hút học viên cần được phát triển như một chiến lược marketing và truyền thông nhằm đáp ứng nhu cầu và sở thích của khách hàng (Leko Šimić & Čarapić, 2008). Hiểu biết về nhu cầu và sở thích với các chương trình đào tạo đại học giúp cho các trường đại học tinh chỉnh các dịch vụ của họ để tạo lợi thế cạnh tranh, định vị thị trường và tăng cường hiệu quả của việc truyền thông, quảng bá. Bởi vậy, điều quan trọng với các trường đại học là hiểu những gì sinh viên tiềm năng coi là quan trọng và tác động đến lựa chọn của họ (Ahmed và cộng sự, 2010). Với các chiến lược marketing đúng đắn có thể giúp các chương trình phát huy lợi thế của họ với sinh viên. Bằng cách hiểu biết về những gì ảnh hưởng tới lựa chọn của sinh viên với chương trình đào tạo cung cấp, các chiến lược và thông điệp truyền thông trợ giúp sinh viên tiềm năng định hình kỳ vọng của họ, điều đó giúp các trường ngăn chặn những kỳ vọng không thực tế của sinh viên hoặc đưa ra những lời hứa không thể đáp ứng (Kotler & Fox, 1995).
Quan niệm sinh viên như một khách hàng bị chỉ trích là một quan niệm hẹp khiến trường đại học tập trung các nỗ lực ngắn hạn vào sự hài lòng của sinh viên (Bay & Daniel, 2001). Tuy nhiên, xu hướng thị trường hóa giáo dục đại học ủng hộ mạnh mẽ khía cạnh sinh viên như khách hàng của trường đại học và được mở rộng bởi quan điểm của Maringe (2006); Marzo Navarro và cộng sự (2005) cho rằng không chỉ sinh viên là khách hàng của nhà trường mà bao gồm cả các bên liên quan khác như người sử dụng lao động, gia đình và xã hội. Quan điểm này được ủng họ bởi Stensaker & D’Andrea (2007) cho rằng sinh viên là khách hàng chính trong khi đó các nhà tuyển dụng là khách hàng thứ cấp của trường đại học. Sự cạnh tranh khốc liệt để thu hút sinh viên vào các chương trình đào tạo đại học đã buộc các trường phải xem sinh viên như khách hàng và cố gắng thỏa mãn sinh viên (Lim, 2014; Padlee và cộng sự, 2010). Do sự quan trọng của việc thu hút sinh viên dẫn đến các trường đại học phải thiết lập các chiến lược thu hút
sinh viên một cách cẩn trọng trong toàn bộ quy trình tuyển sinh (Chia, 2011). Trong phạm vi của luận án này, tác giả cũng quan niệm sinh viên như khách hàng của các chương trình du học tại chỗ mặc dù các nhà nghiên cứu có thể có định nghĩa rộng hơn về khách hàng của chương trình du học tại chỗ (nhà tuyền dụng, xã hội).
2.1.1. Đặc điểm của dịch vụ giáo dục đại học
- Tính chất dịch vụ của giáo dục đại học
Mặc dù còn tồn tại những quan điểm khác, nhưng ngày nay giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng được quốc tế xem như một loại dịch vụ có tính thương mại (WTO). Đồng thời, quá trình thị trường hóa các hoạt động giáo dục và giáo dục đại học cũng đang nổi lên như một xu hướng chính (Kuroda và cộng sự, 2010). Với bản chất là một loại dịch vụ, giáo dục đại học cũng giống như các dịch vụ khác không có hoạt động lưu kho, cất trữ, quá trình đào tạo và tiếp nhận diễn ra đồng thời và chất lượng dịch vụ khó đảm bảo giống nhau giữa các thời điểm (Kotler & Fox, 1995).
Tiếp cận theo quan điểm kinh tế học, hiện nay nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam đều đồng tình với quan điểm cho rằng giáo dục đại học là một ngành dịch vụ. Phạm Thị Ly (2009) cho rằng “Hiện đang có hai xu hướng nhìn nhận về giáo dục đại học: một xu hướng truyền thống xem đại học là hàng hóa công vì phục vụ lợi ích công, do vậy lợi nhuận không phải là mục tiêu. Một xu hướng khác ngày càng rõ nét, là xem giáo dục đại học như một hàng hóa khả mại cần hoạt động theo những luật lệ thương mại như Hiệp định GATS và trong khuôn khổ WTO”. Phạm Đức Chính, Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự (2014) cho rằng sản phẩm của giáo dục đại học với tư cách là hàng hóa là “nội dung của chương trình giáo dục đại học, kết quả cuối cùng thể hiện trong những kiến thức, kỹ năng mà người học thu nhận được để vận dụng vào cuộc sống phục vụ bản than và cộng đồng”.
- Các thành phần cấu thành dịch vụ giáo dục
Cũng giống như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ giáo dục cũng được cấu thành từ 3 phần chính là con người (human-ware), cơ sở vật chất – phần cứng (hard-ware) và nội dung chương trình – phần mềm (soft-ware).
Con người (human-ware): bao gồm cả giáo viên và cán bộ quản lý. Giáo viên là những người trực tiếp truyền đạt kiến thức cho sinh viên. Có thể coi, đây là bộ phận quyết định đến chất lượng dịch vụ giáo dục. Xét về khả năng chuyển dịch thì đây cũng là bộ phận có khả năng di chuyển dễ dàng giữa các quốc gia. Trước đây, giáo viên có thể di chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác để giảng bài. Hiện nay, nhờ có sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà việc cung cấp bộ phận này có thể được thực hiện qua mạng. Đây là hình thức cung cấp bài giảng qua mạng, thảo luận trực tuyến hay video-
conference… Bên cạnh đó, một bộ phận không thể thiếu là đội ngũ cán bộ quản lý. Đây là những người hỗ trợ cho việc truyền đạt kiến thức của giáo viên cho sinh viên.
Cơ sở vật chất (hard-ware): bao gồm phòng học, các trang thiết bị và điều kiện học tập khác, có thể hiểu là nguồn thu chi tài chính cũng như cơ sở vật chất cần thiết phục vụ hoạt động học tập, giảng dạy của một cơ sở giáo dục đào tạo. Đây là bộ phận không thể thiếu được khi cung cấp dịch vụ giáo dục. Việc truyền đạt kiến thức của giáo viên chỉ có thể thực hiện được khi có sự hỗ trợ của phần cứng này và chính điều kiện học tập có ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục. Tương tự như con người, cơ sở vật chất cũng có thể được cung cấp từ xa thông qua các phần mềm quản lý giáo dục. Chằng hạn như, để tham gia vào các lớp học trực tuyến, người học chỉ cần đăng ký một tài khoản và người cung cấp dịch vụ có thể quản lý tài khoản ở ngay tại địa điểm của mình.
Nội dung chương trình (soft-ware): Có thể hiểu như chương trình đào tạo và nguồn cơ sở học liệu của cơ sở giáo dục đào tạo. Đây là bộ phận không thể thiếu được trong dịch vụ giáo dục. Nó có vai trò gắn kết các bộ phận tạo thành một chương trình giáo dục nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội (khách hàng). Mặc dù bộ phận này dường như có khả năng cung cấp từ xa dễ nhất bởi vì kết cấu chương trình, nội dung các môn học,… không khó có thể tìm kiếm dược. Tuy nhiên, với mỗi lần sử dụng, nội dung môn học cần được thay đổi cho phù hợp với đặc trưng và nhu cầu của người học. Điều đó dẫn đến những khó khăn trong việc chuyển giao nội dung chương trình.
- Cung cấp dịch vụ giáo dục đại học trong phạm vi quốc tế
Theo GATS, thương mại quốc tế về dịch vụ nói chung và dịch vụ giáo dục nói riêng có thể được cung cấp thông qua 4 phương thức như sau:
- Phương thức 1: Cung cấp qua biên giới (Cross border):
Dịch vụ được cung cấp từ địa điểm của người cung cấp dịch vụ đến địa điểm của người sử dụng dịch vụ. Trong phương thức này, chỉ có dịch vụ được di chuyển qua biên giới còn người cung cấp dịch vụ thì không dịch chuyển. Người cung cấp dịch vụ không xuất hiện tại địa điểm của người tiêu dùng dịch vụ đó.
Đối với dịch vụ giáo dục, phương thức này có thể được thực hiện thông qua các hình thức đào tạo trực tuyến (e-learning) hay đào tạo từ xa (distance-learning). Trong trường hợp này, tất cả 3 bộ phận cấu thành đều được cung cấp qua biên giới. Người học chỉ cần có điều kiện truy cập Internet (dụng cụ học tập) để tham gia học còn toàn bộ bài giảng, tài liệu tham khảo sẽ được đưa lên mạng hoặc gửi đến người học trước khi bắt đầu. Trên thế giới có khá nhiều tổ chức đã thực hiện các khóa đào tạo qua mạng dưới
hình thức này như Viện nghiên cứu Ngân hàng thế giới (World Bank Insstitute) hay tập
đoàn Thompson.
Cũng có trường hợp, khóa học trực tuyến có sự tham gia của một tổ chức tại địa điểm của người sử dụng dịch vụ. Chẳng hạn, trong khóa học trực tuyến của JICA, các buổi thảo luận được thực hiện dưới hình thức hội thảo trực tuyến (e-conference) từ văn phòng JICA tại các nước. Trong trường hợp này, chỉ có bài giảng và nội dung chương trình được cung cấp qua mạng. Ưu điểm của phương thức này là khắc phục được những hạn chế về cơ sở hạ tầng Internet.
Một hình thức nữa của phương thức cung cấp qua biên giới là giai đoạn học tập trong nước của các chương trình liên kết. Chẳng hạn, trong chương trình thạc sỹ kinh doanh quốc tế MIB (liên kết giữa Trường Đại học Ngoại thương và Đại học La Trobe), 3 môn học đầu tiên do các giáo viên của FTU giảng dạy theo chương trình của LTU. Như vậy, trong trường hợp này, chỉ có nội dung chương trình được cung cấp từ xa. Việc liên kết đào tạo giúp giảm bớt chi phí đối với người học.
- Phương thức 2: Tiêu dùng ở nước ngoài (Consumption abroad)
Hình thức này liên quan tới các dịch vụ được tiêu dùng bởi người sử dụng dịch vụ tại địa điểm của người cung cấp dịch vụ. Nói cách khác, dịch vụ được cung cấp cho người tiêu dùng ở ngoài quốc gia mà người tiêu dùng đó cư trú thường xuyên.
Đối với dịch vụ giáo dục, phương thức này chính là hình thức du học nước ngoài. Theo đó, người học sẽ di chuyển còn toàn bộ 3 bộ phận cấu thành (giáo viên, cơ sở vật chất và nội dung chương trình) được cung cấp tại địa điểm của nhà cung cấp. Trong những năm gần đây, phương thức này đã phát triển khá mạnh với số lượng sinh viên Việt Nam du học ở nước ngoài cũng như sinh viên nước ngoài đến Việt Nam học tập ngày càng nhiều. Ưu điểm của phương thức này là đảm bảo được sự nhất quán giữa các bộ phận nên chất lượng dịch vụ được đảm bảo.
Ngoài ra, do dịch vụ giáo dục được cung cấp trong thời gian dài nên cũng có những giai đoạn phương thức này được thực hiện trong chương trình đào tạo. Trên thế giới, nhiều trường đại học có các chương trình trao đổi sinh viên (student exchange) trong 1 hoặc 2 học kỳ. Nhờ đó, sinh viên có thể tiếp cận được với các nền văn hóa khác nhau mà vẫn đảm bảo được chất lượng học tập. Trường Đại học Ngoại thương cũng có những chương trình hợp tác theo đó sinh viên tiếng Nhật có thể đi học tại Nhật Bản 1 năm rồi về tiếp tục theo học tại FTU. Tuy nhiên, trường hợp này thì 1 năm học đó không gắn chặt với chương trình đào tạo mà chỉ giúp trau dồi về ngôn ngữ và văn hóa.
- Phương thức 3: Hiện diện thương mại (Commercial presence):
Trong hình thức này dịch vụ được cung cấp bởi người cung cấp dịch vụ của một thành viên, qua sự “hiện diện thương mại” tại địa điểm của người sử dụng dich vụ. Để cung cấp dịch vụ theo hình thức này người cung cấp dịch vụ phải thành lập một công ty, một chi nhánh, một văn phòng đại diện, hay là một liên doanh, v.v. để cung cấp dịch vụ.
Đối với dịch vụ giáo dục, đây là trường hợp thành lập các trường đại học của nước ngoài hay các cơ sở (campus) đào tạo 100% vốn nước ngoài và hoạt động tại các địa phương. Nhờ đó, không những tính đồng bộ được đảm bảo mà nội dung chương trình còn có thể được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện và nhu cầu từng địa phương. Trường địa học RMIT ở Việt Nam là ví dụ cho trường hợp này.
- Phương thức 4: Hiện diện của thể nhân (Presence of natural person):
Hình thức này chỉ áp dụng với nhà cung cấp dịch vụ là các thể nhân, trong đó các thể nhân này sẽ hiện diện trực tiếp ở địa điểm của người sử dụng để cung cấp dịch vụ. Đây là trường hợp cung cấp dịch vụ của những người tự kinh doanh hay những người làm việc cho các nhà cung cấp dịch vụ…
Đối với dịch vụ giáo dục, đây là trường hợp giáo viên sẽ di chuyển đến địa điểm của người học. Trường hợp phổ biến của phương thức này là hình thức liên kết đào tạo. Theo đó, Đại học nước ngoài sẽ cử giáo viên sang giảng dạy còn cơ sở vật chất và quản lý sinh viên do tổ chức trong nước chịu trách nhiệm. Ngoài ra, còn có hình thức trao đổi giáo viên giữa các trường đại học, theo đó một số môn học có thể do giáo viên nước ngoài chịu trách nhiệm.
Mã đề tài 02
