Các nghiên cứu về quyền con người

Các nghiên cứu về quyền con người

Quyền con người là một lĩnh vực nghiên cứu thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước. Các nghiên cứu về QCN rất phong phú, đa dạng và đạt được những kết quả nhất định. Có rất nhiều định nghĩa về QCN, mỗi định nghĩa là một sự biểu hiện khác nhau ở góc độ nhìn nhận về vấn đề nhân quyền.

Ở các nước Châu Âu, QCN được nghiên cứu từ rất sớm, với nhiều học giả nổi tiếng, trong đó tập trung ở các đại biểu tư tưởng của giai cấp tư sản ở thế kỷ XVII, XVIII như Crotius, Hobbes, Kant, Locke, Spinoza, Rousseau hoàn thiện và nêu ra trong học thuyết về pháp luật tự nhiên. Trường phái này cho rằng, quyền tự nhiên, pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật nhà nước. Xuất phát từ quan điểm này, Jacques Mourgon (giáo sư đại học khoa học xã hội Toulouse) đưa ra định nghĩa: “Quyền con người là những đặc quyền được các quy tắc điều khiển mà con người giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân và với chính quyền” [164, tr. 12]. Quan niệm này, thực chất là dựa trên cơ sở lý thuyết pháp quyền tự nhiên để xem xét về QCN và do đó đã tuyệt đối hóa quyền tự nhiên của con người, coi đó là “những giá trị tuyệt đối” không thể xâm phạm, không thay thế, bất biến, tuy vậy đã gắn quyền tự nhiên của con người với “quy tắc điều khiển”, có nghĩa gắn với những quy định của các thể chế khác nhau (có thể là những thể chế quốc tế, thể chế quốc gia, thể chế của các tổ chức phi nhà nước, thể chế của cộng đồng).

Ngược lại với quan điểm trên, các học giả theo học thuyết về các quyền pháp lý (legal rights) {trong một số tài liệu, các quyền pháp lý còn được gọi là các quyền dân sự (civil rights) hoặc các quyền luật định (statutory rights)} cho rằng, các QCN không phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà nước xác định và pháp điển hóa thành các QPPL hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa. Hai học giả tiêu biểu cho học thuyết về quyền pháp lý có thể kể đến là Edmund Burke (1729-1797) và Jeremy Bentham (1748-1832). Edmund Burke, trong tác phẩm “Suy nghĩ về Cách mạng Pháp” (Reflections on the Revolution in France, 1790) và Jeremy Bentham, trong tác phẩm “Phê phán học thuyết về các quyền tự nhiên, không thể tước bỏ” (Critique of the Doctrine of Inalienable, Natural Rights, 1843) cùng cho rằng, ý tưởng về các quyền tự nhiên là vô nghĩa (nonsense upon stilts) và chẳng có quyền nào lại không thể tước bỏ (inalienable).

Các sách chuyên khảo, tham khảo như: “A practitioner’s guide to the European Convention on Human Rights”, của Karen Reid, được xuất bản năm 1998 tại London; “Asia-Pacific human rights documents and resources”, của Fernand de Varennes, xuất bản năm 2000 bởi Đại học Cambridge; “Challenges facing the system of special procedures of the United Nations Commission on Human Rights” (tạm dịch là “Những thách thức đối với hệ thống quy định đặc biệt của Liên hợp quốc về quyền con người”), của Miko Lempinen, được xuất bản bởi Đại học Åbo Akademi năm 2001; “Human rights and policing: standards for good behaviour and a strategy for change” (tạm dịch là Quyền con người và chính sách: Những chuẩn mực cho cách xử sự tốt và một chiến lược để thay đổi) của nhóm tác giả Ralph Crawshaw, Barry Devlin, Tom Williamson, năm 1998; “Human rights in the twenty-first century: a global challenge” (tạm dịch là Quyền con người trong thế kỷ 21: Một thách thức toàn cầu), của nhóm tác giả Kathleen E. Mahoney and Paul Mahoney, được xuất bản bởi Đại học Boston, năm 1993; “International human rights law: a practical approach” (tạm dịch là “Luật Quốc tế về quyền con người: Một cách tiếp cận thực tế”) của Javaid Rehman, xuất bản năm 2003; “The European system for the protection of human rights” (tạm dịch là “Hệ thống châu Âu về bảo vệ quyền con người”), của nhóm tác giả R. St. J. Macdonald, F. Matscher,

  1. Petzold, được xuất bản bởi Đại học Boston, năm 1993… là những nghiên cứu về QCN ở những lĩnh vực khác nhau từ thực tế về quá trình áp dụng các Công ước quốc tế về QCN. Theo đó, từ những cách tiếp cập của các tác giả là các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động nhân quyền hoặc của nhân viên cảnh sát, trên cơ sở thực tiễn quy định tại Công ước quốc tế về QCN, thực tiễn áp dụng các Công ước này tại Châu Âu, Châu Á – Thái Bình Dương, các tác giả đã tiếp tục phân tích để thấy rõ hơn nội hàm khái niệm QCN, đánh giá thực tế áp dụng các văn bản pháp lý quốc tế về QCN, đồng thời đưa ra khuyến nghị nhằm ĐBQCN ở cả khía cạnh nhà nước và công dân. Trong đó, có các phân tích cụ thể về 02 Công ước về các quyền dân sự và chính trị và các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, 07 hiệp ước khác liệt kê các nghĩa vụ của các quốc gia liên quan đến một số hành vi vi phạm nhất định (tra tấn, cưỡng chế mất tích, phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc và giới tính…) hoặc đối với một số đối tượng chủ thể thuộc nhóm yếu thế (trẻ em, người bị khuyết tật, lao động nhập cư); các công ước khu vực như Công ước Châu Âu về Nhân quyền; và vô số các văn bản, hiệp ước và các công cụ khác. Tuy nhiên, hệ thống những quy định này vẫn gặp phải những khó khăn thách thức về thể chế, về trí tuệ, về quy chuẩn… và cần phải gỡ bỏ những rào cản đó trong thời gian tới. Đặc biệt, cuốn “Human rights in the twenty-first century: a global challenge” (tạm dịch là Quyền con người trong thế kỷ 21: Một thách thức toàn cầu) được viết bởi một nhóm các chuyên gia quốc tế nổi tiếng về con người, là kết quả của một hội nghị quốc tế lớn có nội dung về “quyền con người trong thế kỷ XXI: Một thách thức toàn cầu” được triệu tập tại Banff, Alberta, Canada vào tháng 11 năm 1990 (Hội nghị này được hỗ trợ và tổ chức dưới sự bảo trợ của Bộ trưởng – Tổng hợp Hội đồng Châu Âu, Tòa án Nhân quyền Châu Âu, Ủy ban Nhân quyền Châu Âu, Viện Luật Nhân quyền So sánh Strasbourg, Tổ chức Luật Alberta và Trung tâm Quốc tế tại Đại học Calgary). Các mục tiêu chính của

Hội nghị là giáo dục pháp luật và nghiên cứu pháp lý, với tổng số 92 diễn giả đại diện cho 24 quốc gia khác nhau trình bày quan điểm của họ về 24 chủ đề nhân quyền. Đặc biệt, phụ nữ và những người tham gia từ các nước đang phát triển đã mang lại một tầm nhìn mới về QCN cho các chủ đề đa dạng như công nghệ sinh sản, bạo lực nhà nước và công nghệ sinh học. Do đó, chủ đề của cuốn sách này phân tích cụ thể sự phụ thuộc lẫn nhau của các vấn đề pháp lý, xã hội, kinh tế, và môi trường; vượt qua các ranh giới quốc gia và quốc tế; và tinh thần đoàn kết cần thiết để giải quyết chúng.

Ở Việt Nam, kể từ khi Đảng và Nhà nước tiến hành công cuộc đổi mới đất nước (năm 1986), đặc biệt từ sau khi QCN trở thành quyền hiến định, được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 và tiếp tục ghi nhận trong bản Hiến pháp 2013, nhu cầu nhận thức đầy đủ về QCN ngày càng trở nên cần thiết. Hướng nghiên cứu này vừa mang tính cơ bản, vừa mang tính cấp bách, thời sự, nhạy cảm, vừa mang tính quốc tế, tính khu vực và quốc gia [152], vừa có ý nghĩa tư tưởng lý luận và thực tiễn rất quan trọng. Do đó, QCN cũng đã được tiếp cận, định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể kể một số nghiên cứu tiêu biểu sau:

Đề tài khoa học cấp bộ: “Quan điểm C. Mác-Ph.Ăngghen về quyền con người”, Hoàng Văn Hảo chủ nhiệm, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội (1997), đề tài cấp bộ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người”, Cao Đức Thái chủ nhiệm, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội (1998), đề tài cấp cơ sở: “Tư tưởng nhân quyền trong một số học thuyết chính trị, pháp lý cơ bản”, Nguyễn Duy Sơn chủ nhiệm, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội (2013). Trên cơ sở phân tích các luận điểm, quan điểm khác nhau về QCN trong lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các công trình nghiên cứu này đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về QCN như: khái niệm QCN, nguồn gốc QCN, giá trị của QCN và các thuộc tính của QCN (như: mang tính nhân loại và tính giai cấp, gắn liền với nhà nước và pháp luật, được bảo vệ bằng pháp luật…).

Trong nghiên cứu của Bộ Tư pháp: “Việt Nam với vấn đề quyền con người” năm 2005 và trong giáo trình Luật Quốc tế của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2013 cũng đưa ra khái niệm về QCN “là những đặc quyền (nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có của con người) được thừa nhận và bảo hộ bằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Quyền con người là quyền của tất cả mọi người” “về pháp lý, quyền con người là phẩm giá, năng lực, nhu cầu và lợi ích hợp pháp của con người được thể chế, bảo vệ bởi luật quốc gia và luật quốc tế”. Hai quan niệm này cũng chịu sự ảnh hưởng của trường phái pháp quyền tự nhiên, coi QCN là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, hay những đặc quyền vốn có và khách quan của con người, đã kết hợp giữa hai yếu tố, yếu tố tự nhiên và yếu tố pháp lý, nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc “được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” hay “được thừa nhận và bảo hộ bằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia” lại là chưa thực sự hợp lý, vì như vậy QCN chỉ là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên… được pháp luật ghi nhận, còn những gì không được ghi nhận thì không được gọi là QCN. Theo quan niệm của tác giả: “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người” và “những đặc quyền (nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có của con người)” là những giá trị mà con người nhận thức được còn cao hơn những gì đã được thừa nhận và quy định bởi quyền lực. Những gì được thừa nhận và quy định chỉ là sự tiếp cận dần đến những gì mà con người nhận thức được. Điều này thể hiện trong thực tiễn lịch sử của nhân loại, nhà nước, vì có những giai đoạn lịch sử ở quốc gia này, quốc gia khác, quyền của con người đã bị nhà nước hạn chế vì lợi ích của nhà nước – của giới cầm quyền cai trị xã hội.

Chuyên đề: “Một số xu hướng mới về quyền con người tại Việt Nam hiện nay”, số 4/2017, của Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý, đã đưa ra những khái niệm, nhận định chung về các thế hệ QCN và xu hướng mới về QCN nói chung và thực tiễn tại Việt Nam nói riêng. Công trình này như là một làn gió mới mẻ với việc đề cập những xu hướng mới về QCN tại Việt Nam như QCN gắn với sự phát triển khoa học kỹ thuật, QCN gắn với sự phát triển của y học, quyền của một số đối tượng dễ bị tổn thương, quyền của người khuyết tật…

Các nghiên cứu về QCN còn được thể hiện tập trung trong các sách chuyên khảo, sách tham khảo. Trong đó, các sách được viết và xuất bản trước khi Quốc hội ban hành Hiến pháp 2013 đã tập trung là rõ hơn cả lý luận và thực tiễn về QCN như: Khái niệm QCN, vị trí của QCN trong hệ thống pháp luật Việt Nam, cách tiếp cận nghiên cứu QCN. Tiêu biểu trong số này có thể kể đến như: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các quyền mới xuất hiện trong quá trình phát triển”, do tác giả Võ Khánh Vinh làm chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2012; “Sổ tay Tìm hiểu pháp luật trong nước về quyền con người”, của Bộ Tư pháp, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2012; “Hỏi đáp về quyền con người” của nhóm tác giả Nguyễn Đăng Dung – Phạm Hồng Thái – Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012; “Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học”, tập I và tập II, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2010; “Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội”, của Võ Khánh Vinh làm chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2009.

Ngược lại, những công trình nghiên cứu sau năm 2013 ngoài việc định hình cụ thể nội hàm khái niệm QCN trên cơ sở quy định của Hiến pháp, đã tập trung nghiên cứu những vấn đề mang tính chuyên sâu, như: việc hạn chế QCN, nguyên tắc, thẩm quyền và phạm vi hạn chế QCN; lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng QCN ở Việt Nam; sự phát triển của quy định QCN trong các bản Hiến pháp qua các thời kỳ lịch sử… Có thể kể đến như: “Nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013”, của chủ biên Nguyễn Văn Hiển, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2019; “Nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân: sách tham khảo”, của tác giả Lưu Đức Quang, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2016; “Tư tưởng Việt Nam về quyền con người”, tác giả Phạm Hồng Thái làm chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2016; “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp Việt Nam”, của chủ biên Phạm Văn Ba, Nguyễn Thị Báo, Vũ Công Giao, Trần Thái Dương… (tập thể tác giả), do Văn phòng thường trực về nhân quyền và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Phối hợp thực hiện) xuất bản, năm 2015; “Tiếp cận dựa trên quyền con người: Lý luận và thực tiễn”, của chủ biên Vũ Công Giao, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2016.

Các nghiên cứu về đảm bảo quyền con người

Song song với việc nghiên cứu về QCN, trong chính những công trình nghiên cứu đã nêu cũng có những công trình có nghiên cứu về ĐBQCN hoặc có gợi mở về việc đảm bảo hiện thực hóa QCN trong thực tế. Khái niệm ĐBQCN được tiếp cận ở việc hiện thực hóa các QCN và các điều kiện ĐBQCN. Trong đó, các công trình nghiên cứu nước ngoài đề cập tới việc ĐBQCN thông qua các cơ chế ĐBQCN, gồm có ba cấp độ cơ bản: cấp độ quốc tế (của Liên hợp quốc), cấp Khu vực (châu Âu, châu Phi, Đông Nam Á…) và cấp quốc gia [176], đồng thời khẳng định: “Quyền con người thường được thể hiện và đảm bảo bằng các quy định của pháp luật, dưới các hình thức điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, nguyên tắc pháp luật chung và các nguồn khác của luật quốc tế…” (Tuyên ngôn thế giới về QCN, Đại hội đồng Liên hợp quốc, ngày 10/12/1948).

Ở trong nước, ĐBQCN cũng được nghiên cứu từ khá sớm, ngay trong các đề tài khoa học cấp bộ, cấp cơ sở nghiên cứu về QCN [66], [116], [121]. Trong Báo cáo Tổng quan đề tài khoa học cấp nhà nước, Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX-07 “Các điều kiện bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước” do Hoàng Văn Hảo là chủ nhiệm (1995), nhóm nghiên cứu cho rằng: bảo đảm QCN gắn liền với dân chủ, nhà nước pháp quyền, pháp luật, dân trí, thông tin, kinh tế…

Trong đó khẳng định: dân chủ gắn bó hữu cơ với nhân quyền và là công cụ, phương tiện đảm bảo và phát triển QCN. Trong tham luận “Vai trò của Tòa án trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân” tại Hội thảo quốc tế “Chủ nghĩa Hiến pháp, cơ chế bảo hiến và quyền con người – kinh nghiệm Cộng hòa Liên bang Đức và Việt Nam” (Kỷ yếu Hội thảo – Viện Nghiên cứu quyền con người – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2014), tác giả Hoàng Hùng Hải cho rằng “Bảo đảm quyền con người là hoạt động của các chủ thể thực hiện một hệ thống các điều kiện và biện pháp về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, pháp luật hướng tới việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức” [65, tr. 1].

Các sách chuyên khảo: “Bảo hiến và vấn đề bảo vệ quyền con người”, của chủ biên Đặng Minh Tuấn, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2015; “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người”, của chủ biên Võ Khánh Vinh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2011; “Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm quyền con người”, của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam do Vũ Văn Nhiêm chủ biên, Biên soạn: Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, năm 2013; “Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, của tác giả Trần Ngọc Đường, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2004… đều nghiên cứu về các phương pháp ĐBQCN ở các giác độ khác nhau. Trong đó, tác giả Trần Ngọc Đường đã phân tích vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc ĐBQCN thông qua hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước, thông qua hệ thống cơ quan hành pháp, thông qua hệ thống cơ quan tư pháp, thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thông qua mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân hay thông qua hành vi hợp pháp và trình độ văn hóa pháp lý của mỗi cá nhân công dân.

Luận án tiến sĩ luật học của Trần Thị Hòe, bảo vệ năm 2015 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: “Nhà nước Việt Nam với việc đảm bảo quyền con người trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày nay” đã nêu và phân tích khái niệm QCN, các đặc trưng của QCN, phân biệt nó với quyền công dân, đồng thời từ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về bảo đảm QCN, tác giả cho rằng: “bảo đảm quyền con người là việc các chủ thể (cá nhân, nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội…) có nghĩa vụ sử dụng các biện pháp, cách thức để hiện thực hóa các nguyên tắc, tiêu chuẩn về quyền con người nhằm bảo vệ và thực thi hiệu quả các quyền và tự do cơ bản của con người trong các hoạt động của mình, ngăn ngừa sự lạm dụng, vi phạm quyền con người từ phía các chủ thể khác”.

Đối với cơ chế ĐBQCN của các nước trên thế giới, tiêu biểu là nghiên cứu của tác giả Bùi Nguyên Khánh, Viện Nhà nước và Pháp luật, năm 2010 về: “Cơ chế bảo vệ quyền con người tại Liên minh Châu Âu”. Trọng tâm của nghiên cứu hướng đến các quyền tự do cơ bản, các chế định cơ bản trong hệ thống thể chế Hiến pháp của Liên minh Châu Âu và vai trò của Tòa án nhân quyền của Châu Âu, Hiến chương về các quyền cơ bản trong Liên minh Châu Âu trong việc ĐBQCN.

Tác giả Hồ Sỹ Sơn, Viện Nhà nước và Pháp luật cũng có bài viết: “Giám sát Hiến pháp – Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người: Nhìn từ góc độ kinh nghiệm nước ngoài”. Bài viết phân tích sự phát triển của hệ thống giám sát Hiến pháp ở một số nước, phân tích cơ quan giám sát Hiến pháp: thẩm quyền, các nguyên tắc và các hình thức bảo vệ con người, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng cơ chế giám sát Hiến pháp bảo vệ QCN.

Các nghiên cứu về vai trò của pháp luật trong đảm bảo quyền con người

Pháp luật trong nhà nước pháp quyền không phải là thứ pháp luật bất kì mà phải là pháp luật chứa đựng một số thuộc tính nội tại [163, tr. 18] (đòi hỏi về mặt nội dung). Thuộc tính nội tại quan trọng nhất của pháp luật trong nhà nước pháp quyền là bảo vệ, đảm bảo quyền con người. Nói đúng hơn, bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của con người là nội hàm của nhà nước pháp quyền [134, tr. 63].

Bên cạnh chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội thì pháp luật có một mục đích cụ thể khác là bảo vệ cá nhân trong quan hệ với các cá nhân khác cũng như quan hệ với nhà nước. Theo các chuyên gia của dự án World Justice Project [188], trong nhà nước pháp quyền, để đảm bảo quyền, tự do cơ bản của con người, pháp luật phải đáp ứng năm yêu cầu cơ bản, trong đó có yêu cầu “pháp luật phải rõ ràng, được công bố, ổn định”. Các yêu cầu này tương ứng với ba tiêu chí về tính dễ tiếp cận, tính ổn định và tính khả đoán của pháp luật. Ba yêu cầu này có mối liên hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho chủ thể pháp luật.

Để đạt được mục tiêu bảo vệ QCN, pháp luật trong mô hình nhà nước pháp quyền phải đáp ứng được các tiêu chí nhất định. Đây cũng là khía cạnh nghiên cứu mới về nhà nước pháp quyền và QCN trong những năm gần đây tại một số quốc gia:

Geranne Lautenbach, The Concept of the Rule of Law and the European Court of Human Rights, (Quan niệm pháp quyền và Tòa án châu Âu về quyền con người), Nxb Oxford University Press, 2013, nghiên cứu về quan niệm của Tòa Án nhân quyền châu Âu thông qua các phán quyết của Tòa án này liên quan đến chất lượng của VBQPPL của các quốc gia châu Âu.

Paul Craig, Formal and Substantive Conceptions of the Rule of Law: An Analytical Framework, (Quan niệm pháp quyền hình thức và nội dung: khuôn khổ phân tích) in trong Richard Bellamy (ed), The Rule of Law and the Separation of Powers (Pháp quyền và phân quyền), Nxb Routledge, 2005. Công trình này phân tích các quan niệm truyền thống về pháp quyền và nhấn mạnh đến xu hướng đề cao pháp quyền về mặt nội dung (Substantive Rule of Law) trong những năm gần đây trên thế giới.

Patricia Rrapi, L’accessibilité et l’intelligibilité de la loi en droit constitutionnel, (tính dễ tiếp cận và dễ hiểu của luật trong luật hiến pháp) Nxb. Dalloz, 2014. Nghiên cứu này phân tích về tính dễ tiếp cận và dễ hiểu của luật pháp như là những điều kiện để bảo vệ QCN. Tác giả sử dụng các phán quyết gần đây của Hội đồng Hiến pháp Cộng hòa Pháp cũng như các phán quyết của Tòa án nhân quyền châu Âu để làm minh họa.

Ở Việt Nam, hiện chỉ có một vài nghiên cứu bước đầu đề cập về mối liên hệ giữa chất lượng pháp luật và QCN. Có thể kể ra một vài nghiên cứu: Sách chuyên khảo của TS. Nguyễn Văn Cương (Chủ biên), Tính ổn định của pháp luật: Nhận thức, thực tiễn và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, 2021, công trình này phân tích vai trò của ổn định của pháp luật trong việc bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh cũng như QCN. Nguyễn Văn Quân, Chất lượng của pháp luật trong nhà nước pháp quyền, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5/2018; Một số tiêu chuẩn của pháp luật trong nhà nước pháp quyền dưới góc độ bảo vệ quyền con người, Tạp chí Pháp luật về quyền con người, số 4/2021. Các nghiên cứu này phân tích vai trò của pháp luật trong đảm bảo quyền và tự do cá nhân, chỉ ra những tiêu chuẩn mà pháp luật phải đáp ứng nhằm bảo vệ các quyền, tự do cơ bản.

Các nghiên cứu về văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản QPPL là hình thức pháp luật tiến bộ nhất, được hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục tiêu quản lý của nhà nước. VBQPPL với những yếu tố cấu thành của nó đã tạo ra những ưu thế đặc biệt giúp các chủ thể quản lý làm cơ sở cho hoạt động quản lý đạt mục tiêu mong muốn.

Ở Việt Nam, VBQPPL là hình thức pháp luật được sử dụng chủ yếu (chỉ từ khi Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực, ngày 01/01/2017, thì án lệ và tập quán mới được sử dụng trong xét xử tại Tòa án). Khái niệm VBQPPL lần đầu được quy định trong Luật Ban hành VBQPPL năm 1996 và được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định 101/NĐ-CP ngày 23/8/1997 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ban hành VBQPPL. Theo quy định tại Điều 1 Luật Ban hành VBQPPL 1996 và hướng dẫn tại Nghị định số 101/NĐ-CP thì VBQPPL là văn bản có đầy đủ các yếu tố sau đây: (i) Văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành với hình thức, trình tự, thủ tục được quy định tại Luật Ban hành VBQPPL và hướng dẫn tại Nghị định; (ii) Văn bản có chứa đựng các quy tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều lần, đối với mọi đối tượng hoặc nhóm đối tượng, (iii) Có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc hoặc từng địa phương và (iv) được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Cho đến nay, dù đã qua 05 lần sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế {vào các năm: năm 2002 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL 1996); năm 2004 (Luật Ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND); năm 2008 (Luật Ban hành VBQPPL); năm 2015 (Luật Ban hành VBQPPL), năm 2020 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL)} song với quy định hiện hành tại Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP) thì khái niệm VBQPPL và 04 đặc trưng nêu trên của VBQPPL từ Luật Ban hành VBQPPL 1996 là dường như không thay đổi.

Chính vì vậy, các tài liệu nghiên cứu trong nước cơ bản dựa trên quy định của Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành để xem xét, phân tích, bình luận, cho ý kiến đối với các đặc trưng này. Trong đó, nhóm các nghiên cứu là giáo trình thì tuân theo đúng quy định của Luật Ban hành VBQPPL để xem xét, phân tích, hướng dẫn về khái niệm và các đặc trưng cấu thành nên khái niệm VBQPPL; trong khi đó, các nghiên cứu khác lại căn cứ lý luận và thực tiễn để phân tích làm rõ giá trị của các yếu tố cấu thành QPPL, từ đó, đưa ra các đặc trưng mà tác giả cho rằng đó là cốt lõi của một VBQPPL, có thể những đặc trưng mà tác giả đúc kết qua nghiên cứu của mình khác với các đặc trưng đã được quy định tại Luật và hướng dẫn tại Nghị định. Cụ thể có thể kể đến là:

Tác giả Nguyễn Cửu Việt tại bài nghiên cứu: “Một luật hay hai luật”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 24, năm 2007 thì phân tích về giá trị của VBQPPL. Tác giả khẳng định: “Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật chính là “cỗ máy cái” trong cơ chế xây dựng pháp luật”. Còn khái niệm VBQPPL là hạt nhân trong “cỗ máy cái” ấy. Việc đưa ra khái niệm VBQPPL có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động lập pháp, nó là cơ sở pháp lý để xác định ai là người ban hành ra pháp luật? Văn bản nào được coi là VBQPPL? Tiêu chí nào để phân định VBQPPL?

Các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ về KTVB QPPL, gồm: “Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật” năm 2002 của Bộ Tư pháp; Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2004 của Bộ Tư pháp “Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật – thực trạng và giải pháp hoàn thiện”; Đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ Tư pháp năm 2012 “Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra – rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay”; Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2014 của Bộ Tư pháp “Hoàn thiện thể chế phục vụ công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo các nguồn thông tin, theo chuyên đề, địa bàn, theo ngành, lĩnh vực”; Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2018 của Bộ Tư pháp:”Đổi mới công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay”; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Kiểm tra, rà soát, xử lí, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật” của TS. Bùi Thị Đào (2010)… đều có nghiên cứu về khái niệm VBQPPL. Mặc dù ở các thời điểm nghiên cứu khác nhau, song các công trình này đều sử dụng khái niệm VBQPPL đã được quy định trong Luật Ban hành VBQPPL và hướng dẫn tại Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn Luật Ban hành VBQPPL ở thời điểm nghiên cứu là cơ sở lý luận cho nghiên cứu của mình. Theo đó, tại Đề tài Đổi mới công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay (Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2018 của Bộ Tư pháp), “văn bản quy phạm pháp luật là một trong các đối tượng của hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật”, “văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này” (Điều 2 Luật Ban hành VBQPPL 2015).

Theo giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội: VBQPPL là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống [128, tr. 355].

Trong bài “Bàn về khái niệm “văn bản quy phạm pháp luật” trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật” đăng trên ấn phẩm Nghiên cứu lập pháp, số 15(271), tháng 8/2014, tác giả Nguyễn Minh Đoan kiến nghị sửa khái niệm VBQPPL trong Luật Ban hành VBQPPL theo hướng quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành và bảo đảm thực hiện theo trình tự, thủ tục nhất định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hình thức, nội dung phù hợp với thẩm quyền của cơ quan ban hành, được thực hiện nhiều lần để điều chỉnh các quan hệ xã hội vì lợi ích cộng đồng” xuất phát từ 05 lý do, trong đó, tác giả cho rằng việc ban hành và bảo đảm thực hiện VBQPPL phải theo trình tự, thủ tục nhất định, trình tự này có thể được quy định trong các văn bản pháp luật khác chứ không chỉ quy định tại Luật Ban hành VBQPPL và mục đích ban hành VBQPPL là để điều chỉnh quan hệ xã hội vì lợi ích cộng đồng ở các phạm vi khác nhau tùy thuộc vào tính chất, nội dung của mỗi văn bản. Như vậy, ở khái niệm này, tác giả đã mở rộng phạm vi quy định trình tự, thủ tục ban hành VBQPPL và đồng thời, siết chặt mục đích ban hành VBQPPL là vì lợi ích cộng đồng.

Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy VBQPPL không phải là một khái niệm mới nhưng để đưa ra một định nghĩa chính xác, thể hiện đúng bản chất và đặc điểm của loại văn bản này thì cần nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc. Nhất là khi VBQPPL thể hiện ý chí, mục đích của Nhà nước đối với một quan hệ xã hội nhất định, là chính sách của Nhà nước đối với vấn đề đó, quan hệ xã hội đó, chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình quản lý của bất cứ Nhà nước nào trên thế giới, đặc biệt việc nghiên cứu khái niệm này trong việc ĐBQCN dưới góc độ luận án tác giả đưa ra lại càng cần thiết.

MÃ ĐỀ TÀI 006

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *