Lý luận về hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ

Quan niệm về hàng giả và hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ

Quan niệm về hàng giả

“Hàng hoá giả mạo về SHTT” bắt nguồn từ khái niệm “hàng giả”. Dưới góc độ ngữ nghĩa: “Giả có nghĩa không phải là thật mà được làm với bề ngoài giống như thật để người khác tưởng là thật”.68 Theo nghĩa thông dụng, hàng giả được hiểu là “hàng làm bắt chước theo mẫu mã của loại hàng thật nào đó đang được lưu hành, nhưng không bảo đảm đủ tiêu chuẩn về phẩm chất hoặc không có giá trị sử dụng, hoặc không có giá trị sử dụng đầy đủ, nhất là đối với mặt hàng thông dụng và có nhu cầu lớn. Về hình thức, các loại hàng giả rất giống hàng thật, vì kỹ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi. Người làm hàng giả cũng có khi sử dụng một phần nguyên liệu, các loại bao bì, tem nhãn của hàng thật để lừa gạt người mua”.69 Theo cách hiểu này, hàng giả là hàng làm giả mạo theo một nguyên mẫu hàng hoá, có thể là giả về nội dung, chất lượng (không bảo đảm đủ tiêu chuẩn về phẩm chất) hoặc giả về hình thức (tem nhãn, bao bì) với mục đích để đánh lừa người tiêu dùng.

Tác giả Anne Gilson Lalonde trong cuốn chuyên khảo “Chống hàng giả trong thế kỷ 21” (Anti-Counterfeiting in the twenty first century) cho rằng, hàng giả thương mại là hành vi đặt một nhãn hiệu giả trên một sản phẩm, thường có chất lượng kém hơn, nhằm làm cho sản phẩm không thể phân biệt được với mặt hàng chính hãng.71 Dưới góc độ thương mại, tác giả cho rằng hàng giả là loại hàng hoá thường có chất lượng kém hơn hàng chính hãng (hàng thật) nhưng được sử dụng nhãn hiệu giả (có bề ngoài giống như thật) để khiến người tiêu dùng nhầm lẫn, không thể phân biệt với hàng thật. Như vậy, qua những cách tiếp cận trên, có thể thấy hàng giả thường có hai dấu hiệu: chất lượng thường thua kém hàng thật và có hình thức bên ngoài giống hàng thật để gây nhầm lẫn, lừa gạt người tiêu dùng rằng đó là hàng thật.

  • Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr. 405
  • Viện Từ điển bách khoa thư Việt Nam, Từ điển bách khoa <http://bachkhoatoanthu.vass.gov.vn/noidung/ tudien/Lists/GiaiNghia/View_Detail.aspx?TuKhoa=Hàng%20giả&ChuyenNganh=0&DiaLy=0&ItemID=9484 > (truy cập lần cuối 20/07/2022)
  • Nguyễn Thị Quế Anh, Phạm Tiến Vinh (2015), Pháp luật chống hàng giả gây hại sức khoẻ, an toàn, NXB Hồng Đức, tr. 16.
  • Anne Gilson LaLonde (2006), Anti-Counterfeiting in the twenty first century, NXB LexisNexis, tr. 4 – 8.

Hàng giả thường có yếu tố giả mạo về nội dung (chất lượng) như: hàng hoá không có giá trị sử dụng; hoặc có giá trị sử dụng nhưng không bảo đảm chất lượng, công dụng như đã công bố hoặc đăng ký. Khi mua phải hàng giả về nội dung, người tiêu dùng thường bị thiệt hại về kinh tế, thậm chí có thể bị thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng như: mua phải dược phẩm, mỹ phẩm hay rượu giả. Với mục đích để đánh lừa người tiêu dùng, hàng giả thường kèm theo yếu tố giả về hình thức bên ngoài. “Hàng hoá giả mạo về hình thức là những hàng hoá mà yếu tố nhận diện, chỉ dẫn thể hiện trên hàng hoá đó không phù hợp, không đúng với thực tế. Những yếu tố nhận diện của hàng hoá có thể là nhãn hàng hoá, tem, bao bì, tên thương phẩm hàng hoá, mã số đăng ký lưu hành, mã vạch, các chỉ dẫn về nguồn gốc hàng hoá, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hoá,…”72 Việc giả mạo về hình thức gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hoá, làm ảnh hưởng đến uy tín của thương nhân có hàng hoá bị làm giả.

Trên thực tế, hàng giả nói chung có cả yếu tố giả về nội dung (chất lượng) và giả mạo về hình thức với mục đích để đánh lừa người tiêu dùng. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp cá biệt mà hàng giả không đồng thời chứa đựng cả hai yếu tố trên. Trường hợp thương nhân sản xuất hàng hoá không bảo đảm chất lượng, công dụng như đã công bố hay đăng ký thì chỉ là hàng giả về nội dung. Ngược lại, có trường hợp hàng hoá của thương nhân bảo đảm chất lượng, công dụng nhưng lại cố tình sử dụng nhãn hiệu, tem nhãn của thương nhân khác đã có uy tín với người tiêu dùng do nắm bắt tâm lý của người tiêu dùng thường ưa chuộng những nhãn hiệu có uy tín trên thị trường. Thậm chí, trong nhiều trường hợp, người tiêu dùng có thể “đồng loã” với người buôn bán hàng giả khi họ biết đó là hàng giả và chấp nhận chất lượng hàng hoá có thể thấp hơn hàng thật nhưng giá rẻ, do tâm lý chuộng những hàng hoá gắn với những nhãn hiệu nổi tiếng. Tình huống này phổ biến với những mặt hàng thời trang như: túi xách, đồng hồ, kính mắt, quần áo, giầy dép,… Trong trường hợp này, lợi ích của người tiêu dùng không bị ảnh hưởng nhưng lợi ích của thương nhân bị giả mạo sẽ bị tổn hại.

Hàng hoá giả mạo về hình thức là những hàng hoá mà những yếu tố nhận diện, chỉ dẫn thể hiện trên hàng hoá không phù hợp, không đúng với thực tế.73 Yếu tố giả mạo về hình thức rất đa dạng, có thể là: giả mạo về tên, địa chỉ của thương nhân; giả mạo về nguồn gốc của hàng hoá, nơi đóng gói, lắp ráp hàng hoá; giả mạo về tem nhãn, bao bì; mã vạch, mã số đăng ký lưu hành; giả mạo về nhãn hiệu, tên thương mại,… Yếu tố giả

  • Nguyễn Thị Quế Anh, Phạm Tiến Vinh (2015), Pháp luật chống hàng giả gây hại sức khoẻ, an toàn, NXB Hồng Đức, trang 20.
  • Nguyễn Thị Quế Anh, Phạm Tiến Vinh (2015), Pháp luật chống hàng giả gây hại sức khoẻ, an toàn, NXB Hồng Đức, tr. 20 mạo về hình thức thường liên quan đến các đối tượng quyền SHTT như: các chỉ dẫn thương mại được bảo hộ quyền SHCN hoặc đối tượng được bảo hộ QTG, QLQ.
  • Việt Nam, văn bản pháp luật đầu tiên đưa ra định nghĩa về hàng giả là Nghị định số 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về việc kiểm tra, xử lý hoạt động sản xuất buôn bán hàng giả. Điều 3 của Nghị định quy định: “Hàng giả theo Nghị định này, là những sản phẩm, hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó”. Điều 4 của Nghị định 140/HĐBT nêu cụ thể 06 trường hợp được coi là hàng giả, bao gồm: 1) Sản phẩm có nhãn giả mạo; 2) Sản phẩm, hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hàng hóa đã được đăng ký, bảo hộ; 3) Sản phẩm, hàng hóa mang nhãn không đúng với nhãn sản phẩm đã đăng ký với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng; 4) Sản phẩm hàng hóa ghi dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam; 5) Sản phẩm, hàng hóa đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượng với cơ quan tiêu chuẩn đo lượng chất lượng mà có chất lượng thấp hơn mức tối thiểu cho phép; 6) Sản phẩm, hàng hóa có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất, tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó.

Kể từ sau Nghị định số 140/HĐBT năm 1991, khái niệm hàng giả tiếp tục được đề cập đến trong nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam, từ các văn bản về xử lý vi phạm hành chính, hình sự đến các văn bản về kinh doanh thương mại, bảo hộ SHTT, hải quan. Năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2013/NĐ-CP ngày 10/01/2013 quy định xử phạt hành chính đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả. Tại Điều 4, Nghị định này nêu ra 04 trường hợp được coi là hàng giả, bao gồm: hàng hóa giả về nội dung; hàng hóa giả về hình thức; hàng hóa giả mạo về SHTT; trường hợp các sản phẩm tem, nhãn, bao bì giả. Cũng trong năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêu dùng. Nghị định này thay thế một loạt các văn bản mới ban hành trước đó về xử phạt hành chính, trong đó bao gồm cả Nghị định số 08/2013/NĐ-CP. Theo đó, khái niệm hàng giả quy định tại khoản 8 Điều 3 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP được phân loại dưới hình thức liệt kê, mô tả. Mặc dù khái niệm về hàng giả nêu tại Nghị định số 185/2013/NĐ-CP quy định mức độ chi tiết hơn các văn bản trước đây, tuy nhiên về cơ bản, quy định của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP không có sự khác biệt so với quy

định tại Nghị định số 08/2013/NĐ-CP trước đó.

Ngày 26/8/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thay thế cho Nghị định số 185/2013/NĐ-CP. Liên quan đến khái niệm hàng giả, Nghị định này liệt kê 06 loại hàng giả,74 trong đó có 04 loại hàng giả về nội dung bao gồm: hàng giả công dụng, hàng giả chất lượng, thuốc giả, thuốc thú y giả và thuộc bảo vệ thực vật không đạt chất lượng và 02 loại hàng giả về hình thức bao gồm: hàng giả về nhãn, bao bì hàng hoá và tem, nhãn, bao bì hàng hoá giả.

So với Nghị định số 185/2013/NĐ-CP, Nghị định số 98/2020/NĐ-CP vẫn có sự phân biệt giữa hàng giả về nội dung và hàng giả về hình thức, tuy nhiên đã có một sự thay đổi là loại bỏ “hàng hoá giả mạo về SHTT” ra khỏi danh mục hàng giả về hình thức. Theo quan điểm của NCS, việc loại bỏ này không phải xuất phát từ lý luận về bản chất của hàng giả mà xuất phát từ vấn đề tránh chồng lấn trong việc áp dụng văn bản pháp luật. Ở Việt Nam, các hành vi xâm phạm quyền SHTT, trong đó có giả mạo về SHTT được điều chỉnh bởi những văn bản pháp luật chuyên biệt thuộc lĩnh vực SHTT.75 Các hành vi liên quan đến hàng giả khác sẽ được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại. Vì vậy, phạm vi của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP sẽ không được áp dụng để điều chỉnh đối với hàng hoá giả mạo về SHTT. Xét dưới góc độ lý thuyết, hàng hoá giả mạo về SHTT vẫn là một dạng hàng giả về hình thức.

Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát, hàng giả là một loại hàng hóa được sản xuất theo một nguyên mẫu hàng hoá nhưng không bảo đảm đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, chất lượng so với nguyên mẫu; hoặc giả mạo về hình thức bên ngoài (tem nhãn, bao bì) với mục đích để đánh lừa người tiêu dùng.

Hàng giả thường có yếu tố giả mạo về nội dung, chất lượng hoặc giả mạo về hình thức, trong đó giả mạo về SHTT thường là một dạng hàng giả về hình thức.

  • Khoản 7 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
  • Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 126/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa; hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ; năng lượng nguyên tử; Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 28/2017/NĐ-CP ngày 20/3/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan.

Quan niệm về hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ

Trong số các loại hàng giả, có một loại hàng giả trực tiếp liên quan đến xâm phạm quyền SHTT được gọi là hàng hóa giả mạo về SHTT. Hàng hóa giả mạo về SHTT thực chất được chuyển ngữ từ thuật ngữ “counterfeit goods” hoặc “counterfeit trademark goods” được quy định trong TRIPs.

Liên quan đến khái niệm hàng hoá giả mạo về SHTT, tại Điều 5 của ACTA có quy định hai khái niệm “hàng hóa giả mạo nhãn hiệu” và “hàng hóa sao chép lậu”. Theo đó, hàng hoá giả mạo nhãn hiệu nghĩa là bất kỳ hàng hoá nào, bao gồm bao bì, có gắn nhãn hiệu mà không được phép của chủ thể quyền trùng với nhãn hiệu được đăng ký hợp pháp đối với hàng hoá đó, hoặc không thể phân biệt được với các đặc điểm cơ bản của nhãn hiệu đó và do đó vi phạm quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu được đề cập theo luật pháp của nước mà trong đó các thủ tục thực thi quyền SHTT được viện dẫn. Hàng hoá sao chép lậu là bất kỳ hàng hoá nào là bản sao được tạo ra mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu quyền hoặc người được ủy quyền hợp pháp của chủ sở hữu quyền tại nước sản xuất và được làm trực tiếp hoặc gián tiếp từ một sản phẩm mà việc tạo ra bản sao đó có thể là một vi phạm QTG hoặc QLQ theo pháp luật của nước mà trong đó các thủ tục thực thi quyền SHTT được viện dẫn.76

Điều 213 Luật SHTT năm 2005 quy định hàng hoá giả mạo về SHTT “bao gồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý (sau đây gọi là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu) và hàng hoá sao chép lậu”. Luật SHTT năm 2005 gộp hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý gọi chung là “hàng hoá giả mạo nhãn hiệu”: “Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý”. Quy định này chưa đưa ra khái niệm và cũng như chưa chỉ ra bản chất của hàng hoá giả mạo về SHTT mà mới chỉ ra 02 loại hàng hoá giả mạo SHTT là: giả mạo nhãn hiệu (bao gồm cả giả mạo chỉ dẫn địa lý) và hàng hoá sao chép lậu. Tuy nhiên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT năm 2022 đã tách hàng hoá giả mạo SHTT thành 03 loại: giả mạo nhãn hiệu, giả mạo chỉ dẫn địa lý và hàng hoá sao chép lậu.

So với các điều ước quốc tế (TRIPs và ACTA) và Luật SHTT năm 2005, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT năm 2022 có cách tiếp cận rộng hơn về phạm vi đối tượng được xác định là hàng hoá giả mạo về SHTT. Theo đó, hàng hoá giả mạo về SHTT không chỉ bao gồm “hàng hoá, bao bì của hàng hoá” như Luật SHTT năm 2005 quy định, mà “tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt” với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cũng được xác định là một dạng của hàng hoá giả mạo về SHTT. Theo NCS, Luật SHTT năm 2022 bổ sung đối tượng là tem, nhãn nêu trên xuất phát từ yêu cầu thực tiễn khi các mặt hàng là tem, nhãn thực tế cũng được giao dịch trên thị trường như các loại hàng hoá khác như: ký hợp đồng đặt gia công, sản xuất hoặc mua bán.

Khái niệm hàng hóa giả mạo về SHTT trong Điều 213 Luật SHTT Việt Nam tương đồng với khái niệm “hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, hàng hóa vi phạm bản quyền” được quy định trong Điều 51 Hiệp định TRIPS, tại chú thích 14.77 Theo định nghĩa này, đối với hàng hoá giả mạo về nhãn hiệu không chỉ bao gồm bản thân hàng hoá đó mà còn gồm cả bao bì chứa đựng hàng hoá như là một dạng vật phẩm mang dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu cũng được xác định là hàng hoá giả mạo về SHTT. So với khái niệm hàng hoá giả mạo trong Điều 5 của Hiệp định ACTA, nội hàm khái niệm hàng hoá giả mạo về SHTT của Việt Nam có phạm vi rộng hơn vì còn bao gồm cả hàng hoá giả mạo về chỉ dẫn địa lý.

  • nhiều quốc gia, khái niệm hàng giả luôn được gắn liền với một vi phạm về SHTT. Chẳng hạn tại Pháp, thuật ngữ hàng giả được sử dụng là “contrefaçon”, theo đó: “Xét dưới góc độ pháp lý, hoạt động về hàng giả được định nghĩa là hoạt động làm giả, bắt chước hoặc sử dụng toàn bộ hoặc một phần nhãn hiệu, kiểu dáng, mẫu hữu ích sáng chế, phần mềm, quyền tác giả hoặc quyền đối với giống cây trồng mà không có sự đồng
  • của chủ sở hữu”.78 Theo cách hiểu này, hoạt động về hàng giả bao gồm cả xâm phạm quyền SHCN, QTG hay quyền đối với giống cây trồng.79 Tương tự, theo khoản 4 điều 1252 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga: “Trong trường hợp việc sản xuất, phổ biến hoặc những hình thức sử dụng khác cũng như việc NK, vận chuyển hay tàng trữ các vật phẩm
  • Chú thích số 14 của Hiệp định TRIPs quy định:
  • “Hàng hoá mang nhãn hiệu giả mạo” phải có nghĩa là bất cứ hàng hoá nào, kể cả bao bì, mang nhãn hiệu hàng hoá trùng với nhãn hiệu hàng hoá đã được đăng ký hợp pháp cho hàng hoá đó, hoặc không thể phân biệt với nhãn hiệu đó về những khía cạnh cơ bản, mà không được phép và do vậy xâm phạm các quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá đó theo luật của nước nhập khẩu;
  • “Hàng hoá vi phạm bản quyền” phải có nghĩa là bất cứ hàng hoá nào là bản sao được làm ra mà không có sự đồng ý của người nắm giữ quyền hoặc người được phép của người nắm giữ quyền ở nước sản xuất, và hàng hoá đó được làm ra trực tiếp hoặc gián tiếp từ một sản phẩm mà việc làm bản sao sản phẩm đó cấu thành hành vi xâm phạm bản quyền hoặc quyền liên quan theo luật của nước nhập khẩu”.
  • Định nghĩa của Ủy ban quốc gia chống hàng giả của Pháp (CNAC), xem thêm các Điều L515-1, 152-,L615-1, L716-9 Bộ luật SHTT của Cộng hòa pháp.
  • Định nghĩa của Uỷ ban quốc gia chống hàng giả của Pháp (CNAC); xem thêm các Điều L515, 152, L615-1, L716- 9 Bộ luật Sở hữu trí tuệ, Cộng hoà Pháp.

có chứa đựng các kết quả của hoạt động trí tuệ hoặc các dấu hiệu phân biệt dẫn tới vi phạm độc quyền đối với các đối tượng này thì các vật phẩm trên được coi là giả mạo”.80 Trong  cuốn  “Sách  giáo  khoa  về  sở  hữu  công  nghiệp”  (Industrial  Property RightsStandard Textbook) của cơ quan Sáng chế Nhật Bản, các tác giả đưa ra định nghĩa: hàng giả có hai cụm từ để miêu tả là “counterfeit goods” (hàng hoá giả mạo) và “pirated goods” (hàng sao chép lậu). Theo đó, hàng hoá giả mạo là những hàng hoá xâm phạm quyền SHCN, quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và quyền đối với nhãn hiệu; hàng sao chép lậu là hàng vi phạm bản quyền của các tác phẩm âm nhạc, điện ảnh, phim truyền hình, phần mềm trò chơi và những thứ khác.81

So sánh khái niệm hàng hoá giả mạo về SHTT trong Luật SHTT Việt Nam với quan niệm của một số nước như Nga, Pháp, Nhật Bản kể trên, có thể nhận thấy các quốc gia có cách tiếp cận rộng hơn về phạm vi các đối tượng quyền SHTT được xem xét là giả mạo về SHTT. Theo các nước này, hàng hoá giả mạo về SHTT không chỉ bao gồm giả mạo về nhãn hiệu hay hàng hoá xâm phạm QTG, QLQ mà còn bao gồm các hàng hoá có chứa đựng yếu tố xâm phạm quyền đối với các đối tượng quyền khác như: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp và giống cây trồng. Theo NCS, một số quốc gia có góc nhìn về hàng hoá giả mạo về SHTT khác biệt so với Việt Nam là do họ không phân biệt hàng hoá xâm phạm quyền SHTT và hàng hoá giả mạo về SHTT như ở Việt Nam. Do đó, hàng hoá xâm phạm bất kỳ đối tượng quyền SHTT nào đang được bảo hộ đều được xác định là hàng hoá giả mạo về SHTT.

Nghiên cứu cách tiếp cận của các Điều ước quốc tế cho thấy, hàng hoá giả mạo về SHTT được ghi nhận là hàng hoá giả mạo về hình thức, bao gồm giả mạo về nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và hàng hóa sao chép lậu. Một trong những đặc điểm nổi bật của hàng hoá giả mạo về nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý là phải đồng thời thoả mãn hai tiêu chí: (i) về dấu hiệu: có chứa dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ; và (ii) về hàng hoá, dấu hiệu được “dùng cho chính mặt hàng đó”, hay nói cách khác là trùng về hàng hoá. Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt hàng hoá giả mạo về nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý với các loại hàng hoá xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý.

Thứ nhất, về dấu hiệu: Hàng hoá xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay chỉ dẫn địa lý, có thể mang dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ về cấu tạo, hình thức thể hiện (màu sắc, kiểu chữ và hình ảnh, số ký tự) trên hàng hoá, bao bì hàng hoá; về cách phát âm, phiên âm, dịch nghĩa, ý nghĩa của nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý. Còn đối với hàng hoá giả mạo nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức “khó phân biệt” có nghĩa là dấu hiệu trùng hoàn toàn hoặc nếu có điểm khác thì rất khó có thể nhận biết và phân biệt được đâu là nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý giả mạo, đâu là nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ.

Thứ hai, về hàng hoá: Hàng hoá xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay chỉ dẫn địa lý có thể là hàng hoá trùng, tương tự hoặc có liên quan với hàng hoá thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý. Còn hàng hoá giả mạo nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý thì phải hoàn toàn trùng với hàng hoá thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý.

Dấu hiệu nhận diện hàng hoá giả mạo nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý có sự khác biệt giữa các điều ước quốc tế (TRIPs và ACTA) với Luật SHTT Việt Nam. Theo các điều ước quốc tế, mức độ gây nhầm lẫn của hàng hoá giả mạo về SHTT là các dấu hiệu trùng hoặc không thể phân biệt được với đặc điểm cơ bản của nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ. Trong khi đó, Luật SHTT Việt Nam cho rằng dấu hiệu giả mạo là dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ. Như vậy có thể thấy, dấu hiệu gây nhầm lẫn của hàng hoá giả mạo về SHTT theo các Điều ước quốc tế ở mức độ cao hơn (giống tuyệt đối) khiến người tiêu dùng không thể nhận biết được. Điều này có nghĩa rằng, các dấu hiệu giả mạo trùng khớp hoàn toàn và giống hệt các dấu hiệu mang đặc điểm cơ bản của nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý được bảo hộ. Dưới góc nhìn của Luật SHTT, các dấu hiệu giả mạo gây nhầm lẫn ở mức khó phân biệt. Ở mức độ này, khả năng gây nhầm lẫn cao nhưng chưa đạt đến mức độ nhầm lẫn tuyệt đối như được ghi nhận tại các Điều ước quốc tế. Theo đó, bằng việc so sánh, phân tích các dấu hiệu, đặc điểm cơ bản giữa đối tượng quyền SHTT bị nghi ngờ giả mạo với đối tượng quyền SHTT đang được bảo hộ, chúng ta vẫn có thể phân biệt được một số dấu hiệu không gây ấn tượng mạnh như: kiểu chữ hoặc vị trí các nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được gắn trên hàng hoá hoặc bao bì của hàng hoá. Theo quan điểm của NCS, cần ghi nhận mức độ gây nhầm lẫn của hàng hoá giả mạo về SHTT theo Luật SHTT Việt Nam. Bởi vì, thực tế hàng hoá giả mạo về SHTT do các cơ quan thực thi phát hiện và bắt giữ đa số đều thuộc trường hợp này. Đặc điểm về khả năng gây nhầm lẫn trong trường hợp này cũng bao gồm cả 02 trường hợp: trùng hoặc không thể phân biệt được và trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt. Do đó, phạm vi hàng hoá giả mạo về SHTT sẽ được kiểm soát rộng hơn và hiệu quả kiểm soát đối với hàng hoá này sẽ cao hơn.

Từ những phân tích luận giải trên, có thể đưa ra định nghĩa: “Hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ là hàng hoá, bao bì hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu hoặc tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hay tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý; hoặc hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc quyền liên quan”.

Đặc điểm hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ

Thứ nhất, hàng hoá giả mạo về SHTT là hàng hoá giả mạo về hình thức. Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của các đối tượng quyền SHTT bị xâm phạm. Giả mạo nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý thực chất là việc làm giả các dấu hiệu được gắn trực tiếp lên hàng hóa hoặc nhãn, bao bì hàng hoá để phân biệt hàng hoá của các tổ chức, cá nhân khác nhau hoặc phân biệt các sản phẩm có nguồn gốc, xuất xứ từ những khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia khác nhau. Với ý nghĩa đó, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý được xác định như là một cái tên được thể hiện thông qua những dấu hiệu bên ngoài của hàng hoá, để thực hiện chức năng phân biệt giữa những người làm ra cùng một loại hàng hoá và nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm. Đối với hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất một cách trái phép từ tác phẩm gốc, khi tác phẩm đó được định hình dưới một dạng vật chất nhất định. Điều này có nghĩa là, các tác phẩm bị sao chép trái phép dưới các hình thức: bằng chữ viết, các ký tự khác, đường nét, hình khối, bố cục, màu sắc, âm thanh, hình ảnh hoặc sự tái hiện âm thanh, hình ảnh dưới dạng vật chất nhất định.

Hàng hoá giả mạo về SHTT khi được tạo ra nó mang đặc điểm “tính bắt chước” cái đã có mà không được phép của người có quyền và “tạo ra cái không có thật” để gây hiểu lầm là nó có tồn tại nhằm mục đích lừa dối người tiêu dùng. Đó là một sự bắt chước được thực hiện có chủ đích với ý định đánh lừa người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hoá. Hàng hoá giả mạo về SHTT tạo ấn tượng rằng đó là sản phẩm chính hãng, có nguồn gốc chính từ nhà sản xuất hay người kinh doanh hợp pháp. Tính bắt chước thể hiện ở chỗ: thông qua việc thực hiện hành vi xâm phạm để sản xuất ra sản phẩm mang những đặc điểm, hình thức thể hiện trùng hoàn toàn và giống hệt với hàng hoá thật, làm cho người tiêu dùng không thể phân biệt được với sản phẩm thật.

Thứ hai, hàng hoá giả mạo về SHTT là hàng hóa xâm phạm quyền SHTT ở mức cao nhất đối với các đối tượng quyền SHTT như: nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, nhóm QTG và QLQ đến QTG. Xâm phạm quyền SHTT ở mức cao nhất thể hiện ở chỗ: hàng hoá giả mạo về SHTT mang những đặc điểm trùng và giống hệt với hàng hoá do chính các

chủ thể quyền SHTT sản xuất hoặc đưa ra thị trường về phạm vi bảo hộ như: trùng về đối tượng đang được bảo hộ (mẫu nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý như: số ký tự, kích thước, màu sắc, cách phát âm, dịch nghĩa, kiểu chữ và các hình ảnh, biểu tượng đi kèm nếu có), danh mục hàng hoá được bảo hộ. Đối với hàng hoá sao chép lậu, dấu hiệu vi phạm quyền chính là bản sao được làm ra thể hiện nguyên văn, đầy đủ và giống hệt tác phẩm gốc và được thể hiện dưới một hình thức vật chất theo hình thức thể hiện của tác phẩm gốc.

Đặc trưng này cho thấy, hàng hoá giả mạo về SHTT là một phần của hàng hoá xâm phạm quyền SHTT, vì tất cả hàng hoá giả mạo về SHTT đều xâm phạm quyền SHTT, nhưng không phải tất cả hàng hoá xâm phạm quyền SHTT là hàng hoá giả mạo về SHTT. Theo đó, hàng hóa xâm phạm quyền SHTT là hàng hóa có chứa một hoặc một số dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn với các đối tượng SHTT đang được pháp luật bảo hộ hoặc việc lưu hành hàng hóa bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp. Các loại hàng hóa này được sản xuất, cung cấp ra thị trường nhằm mục đích khiến cho người tiêu dùng bị nhầm lẫn với hàng hóa chính hãng nhằm lợi dụng uy tín để trục lợi.

Thứ ba, hàng hoá giả mạo về SHTT tiềm ẩm nguy cơ gây thiệt hại và có khả năng gây thiệt hại cao nhất cho người tiêu dùng và các chủ thể quyền SHTT. Bởi vì, hàng hoá giả mạo về SHTT được sản xuất một cách trái phép thường không đảm bảo chất lượng và không đáp ứng được yêu cầu của nhà sản xuất. Sử dụng hàng hoá giả mạo SHTT người tiêu dùng ngoài việc phải gánh chịu những thiệt hại về kinh tế, còn có nguy cơ rủi ro về sức khỏe. Chính điều này đã mang những mối nguy hại lớn hơn cho người tiêu dùng. Việc sử dụng các sản phẩm là hàng giả có thể gây ra những thiệt hại về sức khỏe, an toàn cộng đồng. Đối với chủ thể quyền SHTT, do hàng hoá giả mạo về SHTT khiến cho người tiêu dùng không thể phân biệt được với hàng hoá chính hãng. Khi hàng hoá giả mạo về SHTT được tiêu thụ trên thị trường, chủ thể quyền sẽ bị mất đi thị phần (bao gồm cả phần doanh thu và lợi nhuận của hàng hoá chính hãng tương ứng mất đi do hàng hoá giả mạo về SHTT chiếm lĩnh). Chính bởi hàng hoá giả mạo về SHTT có hình thức bên ngoài giống hệt với hàng hoá thật, nên doanh thu và lợi nhuận bị mất đi là lớn nhất đối với các chủ thể quyền.

Tiêu chí nhận diện hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ

Từ khái niệm hàng hoá giả mạo về SHTT theo Luật SHTT cho thấy, để nhận diện được hàng hoá giả mạo về SHTT cần xác định hàng hoá thuộc đối tượng bị xem xét phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

  1. Nhận diện hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ thông qua các yếu tố giả mạo Nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý bị coi là giả mạo nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đang

được bảo hộ khi mang các dấu hiệu, đặc điểm trùng hoặc khó phân biệt về tổng thể cấu tạo và cách trình bày so với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý được bảo hộ.82 Theo đó, nhãn hiệu bị coi là giả mạo khi nhãn hiệu đó có các đặc điểm trùng hoàn toàn với nhãn hiệu đang được bảo hộ về: cấu tạo, cách phát âm, phiên âm đối với dấu hiệu chữ, dấu hiệu hình, ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc làm cho người tiêu dùng khó phân biệt với hàng hoá mang nhãn hiệu do chính chủ thể quyền SHTT đưa ra thị trường. Một chỉ dẫn địa lý bị coi là giả mạo khi chỉ dẫn địa lý đó có các dấu hiệu, đặc điểm hoàn toàn trùng với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ về cấu tạo từ ngữ, cách phát âm, phiên âm đối với chữ cái, ý nghĩa hoặc về hình ảnh, biểu tượng thuộc phạm vi bảo hộ.

Hàng hoá sao chép lậu là được thể hiện dưới dạng bản sao hoặc một phần bản sao của tác phẩm gốc được xác định thông qua nhân vật, hình tượng, hình ảnh, cách thể hiện tính cách nhân vật, tình tiết của tác phẩm.

Nhận diện thông qua phạm vi bảo hộ của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ Danh mục sản phẩm đối với nhãn hiệu là hàng hoá mang dấu hiệu trùng hoặc

tương tự về bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng và có cùng kênh tiêu thụ với hàng hoá thuộc phạm vi bảo hộ. Phạm vi danh mục hàng hoá của nhãn hiệu nổi tiếng rộng hơn so với nhãn hiệu thông thường. Cụ thể là, ngoài danh mục hàng hoá đáp ứng điều kiện của một nhãn hiệu thông thường thì hàng hoá không trùng, không tương tự, không liên quan tới hàng hoá mang nhãn hiệu nổi tiếng nhưng có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sản xuất, kinh doanh hàng hoá đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng cũng được xác định là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu nổi tiếng đó.

Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý giả mạo có dấu hiệu, đặc điểm mang dấu hiệu trùng với sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, trong đó sản phẩm bị coi là trùng hoặc tương tự nếu giống nhau hoặc tương tự nhau về bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng và kênh tiêu thụ hàng hoá.

Hàng hoá sao chép lậu là bản sao tác phẩm được tạo ra một cách trái phép hoặc phần tác phẩm bị trích đoạn, sao chép, lắp ghép trái phép. Bản sao tác phẩm được tạo ra một cách trái phép được hiểu là những bản sao được thực hiện nhưng không thuộc

  • Khoản 5 Điều 11, khoản 4 Điều 12 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy dịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền Sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về Sở hữu trí tuệ. các trường hợp giới hạn QTG mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu tác phẩm.

Đối với QLQ là bản sao bản định hình cuộc biểu diễn, bản sao bản ghi âm, ghi hình, bản sao chương trình phát sóng được tạo ra một cách trái phép; một phần hoặc toàn bộ cuộc biểu diễn đã được định hình, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng bị sao chép, trích ghép trái phép; một phần hoặc toàn bộ chương trình phát sóng bị thu, giải mã và phân phối trái phép.

Nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý, QTG và QLQ dùng làm căn cứ xem xét phải là những đối tượng SHTT đang trong thời gian bảo hộ, thuộc không gian bảo hộ chưa bị chấm dứt hoặc chưa bị hủy bỏ hiệu lực.

Đối với thời hạn bảo hộ QTG, QLQ bao gồm thời gian bảo hộ quyền nhân thân và thời gian bảo hộ quyền tài sản. Tuy nhiên, chỉ có các quyền tài sản là quyền sao chép tác phẩm mới có thể là đối tượng bị làm giả mạo. Các trường hợp khác, chỉ bị coi là hàng hóa xâm phạm quyền.

Không gian bảo hộ được xác định theo đơn vị quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nơi các đối tượng được bảo hộ theo quy định của Luật SHTT và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Đối với hàng hoá giả mạo nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ phải được gắn trực tiếp trên sản phẩm hàng hoá hoặc trên bao bì của hàng hoá đó. Các dấu hiệu giả mạo trên hàng hoá có thể được khắc, đúc, in trực tiếp lên bề mặt của sản phẩm mà khi tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm có thể dễ dàng nhận diện được. Bao bì của hàng hoá có chứa các dấu hiệu giả mạo có thể là bất kỳ loại bao bì hàng hoá nào bao gồm: bao bì thương phẩm (trong đó bao gồm bao bì trực tiếp và bao bì ngoài) và bao bì được sử dụng với mục đích để lưu trữ, vận chuyển, bảo quản hàng hoá đã có nhãn hàng hoá đi cùng với hàng hoá.

Nhận diện thông qua việc cho phép của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ

Việc gắn nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ trên hàng hoá hoặc bao bì của hàng hoá không được phép của chủ thể quyền SHTT. Đây là tiêu chí quan trọng và là điều kiện cần để xác định hàng hoá có phải là hàng hoá giả mạo về nhãn hiệu hay không.

Để xác định là hàng hoá sao chép lậu, trước tiên hàng hoá đó phải là phiên bản được sao chép một cách trái phép từ tác phẩm gốc. Bản sao này được cho là trái phép là do khi sản xuất ra nó không được phép của chủ thể QTG hoặc QLQ.

Phân biệt hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ với hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ khác

Để có cơ chế thực thi quyền SHTT có hiệu quả, giúp chủ thể quyền SHTT và các cơ quan thực thi pháp luật phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành

  • xâm phạm quyền SHTT và xử lý hàng hoá giả mạo SHTT, việc phân biệt hàng hoá giả mạo về SHTT với hàng hoá xâm phạm quyền SHTT là hết sức quan trọng. Tuy nhiên, để có cơ sở phân biệt 02 loại hàng hoá này trước hết cần nhận diện hàng hoá xâm phạm quyền SHTT.

Hàng hoá được xác định là xâm phạm quyền SHTT khi hàng hoá đó có gắn các dấu hiệu thoả mãn các điều kiện về phạm vi bảo hộ (không gian, thời gian, đối tượng quyền SHTT đang được bảo hộ) như đối với hàng hoá giả mạo về SHTT. Tuy nhiên, sự khác biệt của hàng hoá xâm phạm quyền SHTT (không bao gồm hàng hoá được xác định là giả mạo) ở đây để phân biệt với hàng hoá giả mạo về SHTT là dấu hiệu tạo nên yếu tố xâm phạm quyền. Các dấu hiệu của hàng hoá xâm phạm quyền SHTT có các đặc điểm tương tự hoặc liên quan đến bản chất hàng hoá, chức năng, công dụng và kênh tiêu thụ có khả năng gây nhầm lẫn và khó phân biệt với hàng hoá mang các đối tượng quyền SHTT đang được bảo hộ thuộc phạm vi bảo hộ. Ví dụ như: một dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có một số đặc điểm hoàn toàn trùng nhau (đối với hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là tất cả các đặc điểm hoàn toàn trùng nhau) hoặc tương tự đến mức không dễ dàng phân biệt với nhau về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm đối với dấu hiệu chữ, dịch nghĩa, ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hoá mang nhãn hiệu. Đối với chỉ dẫn địa lý, dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn được thể hiện thông qua: cấu tạo từ ngữ, cách phát âm, phiên âm đối với chữ cái, ý nghĩa hoặc hình ảnh, biểu tượng thuộc phạm vi bảo hộ.

Do vậy, NCS cho rằng: “Hàng hóa xâm phạm quyền SHTT là hàng hóa có chứa dấu hiệu, đặc điểm tương tự gây nhầm lẫn với các dấu hiệu, đặc điểm của các đối tượng SHTT đang được pháp luật bảo hộ”.

Để phân biệt hàng hoá giả mạo về SHTT và hàng hoá xâm phạm quyền SHTT

cần căn cứ vào các tiêu chí83 sau đây:

Thứ nhất, về phạm vi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm

Đối tượng của hàng hóa giả mạo về SHTT theo quy định tại Điều 213 Luật SHTT bao gồm: nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và các đối tượng thuộc nhóm QTG và QLQ. Trong khi đó, Luật SHTT và Nghị định số 105/2006/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị

định số 119/2010/NĐ-CP của Chính phủ có quy định hàng hoá xâm phạm quyền SHTT là các hàng hóa có chứa yếu tố xâm phạm đến QTG, QLQ; sáng chế, thiết kế bố chí mạch tích hợp bán dẫn, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, tên thương mại và giống cây trồng.

Như vậy, phạm vi đối tượng quyền SHTT bị xâm phạm của hàng hoá giả mạo về SHTT hẹp hơn rất nhiều so với đối tượng của hàng hoá xâm phạm quyền SHTT. Đối tượng chỉ bao gồm các đối tượng là nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, các đối tượng thuộc nhóm QTG và QLQ. Trong khi đó, đối tượng của hàng hoá xâm phạm quyền SHTT rất rộng bao gồm tất cả các đối tượng quyền SHTT theo quy định của Luật SHTT.

Với phạm vi các đối tượng của hai hàng hoá như trên, NCS nhận thấy: tất cả các đối tượng quyền SHTT đều có thể trở thành đối tượng của hàng hoá xâm phạm quyền. Tất cả các đối tượng của hàng hoá giả mạo về SHTT đều trở thành đối tượng của hàng hoá xâm phạm quyền SHTT nhưng không phải đối tượng của hàng hoá xâm phạm quyền SHTT nào cũng có thể trở thành đối tượng của hàng hoá giả mạo về SHTT. Bởi vì, hàng hoá giả mạo về SHTT trước hết hàng hoá đó phải là hàng hoá xâm phạm quyền SHTT, nhưng chỉ khi hàng hoá đó xâm phạm quyền SHTT ở mức cao nhất thì hàng hoá đó được xác định là hàng hoá giả mạo về SHTT.

Thứ hai, về tính chất và mức độ xâm phạm

Hàng hóa giả mạo về SHTT trước hết là hàng hoá xâm phạm quyền SHTT. Mặc dù 02 loại hàng hoá này là kết quả của các hành vi xâm phạm quyền SHTT, tuy nhiên, tính chất và mức độ xâm phạm đối với các đối tượng quyền SHTT là khác nhau. Điều này được thể hiện qua các nội dung sau:

Một là, mức độ thiệt hại

Về cơ bản hàng hoá giả mạo về SHTT là bản sao trái phép (sự bắt trước) giống hệt hàng hoá thật (do chính chủ thể quyền sản xuất hoặc cho phép đưa ra thị trường). Chính bởi các dấu hiệu để phân biệt nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, các đối tượng QTG và QLQ của hàng hoá giả mạo giống y hệt (giống một cách tổng thể, toàn bộ) như hàng hoá của chủ thể quyền đã làm cho người tiêu dùng không thể phân biệt được. Điều này khiến cho người tiêu dùng nhầm lẫn rằng hàng hoá giả mạo các đối tượng quyền SHTT nêu trên là hàng hoá chính hãng (hàng thật). Do đó, người tiêu dùng phải mất khoản tiền mua hàng hoá giả mạo về SHTT bằng với số tiền mua hàng hoá chính hãng. Tương ứng với đó, chủ thể quyền đã mất đi một phần thị trường và doanh thu do hàng hoá giả mạo về SHTT đã bị chiếm dụng trái phép. Với trình độ ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng tinh vi, hàng hoá giả mạo về SHTT sẽ đạt đến trình độ có hình thức bên ngoài giống y như hàng thật, thì số tiền thu lợi bất chính từ việc bán hàng hoá giả mạo về SHTT luôn đạt ở mức cao nhất.

Trong khi đó, hàng hoá xâm phạm quyền SHTT về cơ bản chứa một hoặc một số dấu hiệu bị coi là có sự tương tự gây nhầm lẫn với các đối tượng SHTT đang được pháp luật bảo hộ. Như vậy có thể thấy, mức độ thiệt hại do hàng hoá giả mạo về SHTT gây ra cho xã hội, chủ thể quyền và người tiêu dùng luôn ở mức cao nhất.

Hai là, mức độ lỗi của chủ thể thực hiện các hành vi xâm phạm quyền

Lỗi của chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm quyền đối với hàng hoá giả mạo SHTT luôn là lỗi cố ý. Bởi khi thực hiện hành vi, họ đã nhận thức được rõ ràng rằng đối tượng quyền SHTT họ sử dụng trái phép thuộc quyền SHTT của người khác nhưng họ vẫn cố ý thực hiện hành vi xâm phạm để trục lợi. Sự cố ý này được thể hiện qua các hành vi cố ý sử dụng các dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt về mặt tổng thể khiến cho người tiêu dùng bị nhầm lẫn với một nhãn hiệu hoặc một chỉ dẫn địa lý nào đó đang được bảo hộ; hoặc thể hiện qua các hành vi sao chép lậu các đối tượng đang được bảo hộ QTG hoặc QLQ tiêu thụ trên thị trường để kiếm lời bất chính.

Như vậy, mức độ lỗi của chủ thể xâm phạm quyền SHTT đối với hàng hoá giả mạo về SHTT luôn ở mức độ cao nhất là lỗi cố ý, thể hiện mức độ xâm phạm các đối tượng quyền SHTT nghiêm trọng hơn so với hàng hóa xâm phạm quyền khác.

Thứ ba, về hậu quả pháp lý

Do tính chất và mức độ xâm phạm quyền SHTT của hai loại hàng hoá giả mạo và hàng hoá xâm phạm quyền SHTT khác nhau nên pháp luật hiện hành quy định về hình phạt và chế tài áp dụng đối với hai loại hàng hoá này cũng khác nhau. Cụ thể là, tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm, chủ thể thực hiện hành vi sản xuất, kinh doanh, buôn bán,… hàng hoá giả mạo về SHTT có thể bị xử lý bằng các biện pháp hành chính, dân sự hoặc hình sự.

Chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm liên quan đến hàng hóa giả mạo về SHTT có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm quyền SHCN theo quy định tại Điều 226 hoặc tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan quy định tại Điều 225 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Chỉ hàng hóa giả mạo về SHTT mới thuộc đối tượng tác động của tội xâm phạm quyền SHCN trong Bộ luật hình sự. Trong khi đó, các hành vi vi phạm liên quan đến hàng hoá xâm phạm quyền SHTT chủ yếu bị áp dụng hình thức xử lý vi phạm hành chính hoặc dân sự, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do hàng hóa xâm phạm quyền SHTT không thuộc phạm vi đối tượng xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với biện pháp xử lý vi phạm hành chính, hình phạt tiền đối với các hành vi liên quan đến hàng hoá giả mạo SHTT có mức phạt cao hơn gấp 02 lần so với các hành vi vi phạm liên quan đến hàng hóa xâm phạm quyền SHTT. Các biện pháp khắc phục hậu quả luôn ở mức độ nghiêm khắc hơn so với hàng hoá xâm phạm quyền SHTT như: tịch thu và buộc tiêu hủy hàng hóa vi phạm, buộc tái xuất hoặc buộc đưa ra khỏi lãnh thổ sau khi đã loại bỏ được yếu tố vi phạm. Trong khi đó, hàng hoá xâm phạm quyền SHTT được phép loại bỏ yếu tố xâm phạm và tiếp tục cho đưa vào lưu thông trên thị trường.

Thứ tư, về mức độ kiểm soát của cơ quan hải quan

Hàng hoá giả mạo về SHTT có mức xâm phạm quyền SHTT lớn hơn so với các hàng hoá xâm phạm quyền SHTT khác và gây thiệt hại lớn cho chủ thể quyền, người tiêu dùng và xã hội. Do đó, khi áp dụng các biện pháp kiểm soát đối với hàng hoá XNK, cơ quan hải quan luôn đặt ở mức độ cao nhất và xác định đây là hàng hoá trọng điểm cần kiểm tra, giám sát chặt chẽ ngay từ khi có thông tin về hàng hoá trước khi hàng đến cửa khẩu. Khi làm thủ tục hải quan cho hàng hoá XNK có dấu hiệu giả mạo về SHTT, các công chức hải quan áp dụng các biện pháp thu thập thông tin, nhận diện các dấu hiệu theo phương thức đánh giá, phân tích hàng hoá thuộc diện rủi ro cao.

Trường hợp xác định hàng hoá giả mạo về SHTT, Hải quan áp dụng ngay các biện pháp ngăn chặn để đảm bảo nguyên trạng hàng hoá để phục vụ công tác xử lý vi phạm như: ra quyết định tạm giữ, bảo quản hàng hoá tại khu vực riêng dễ theo dõi, giám sát; áp dụng các biện pháp quản lý đối với tổ chức, cá nhân có hàng hoá giả mạo về SHTT như đưa vào danh sách người khai hải quan có rủi ro vi phạm về SHTT, kiểm tra hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế đối với hàng hoá XNK của các tổ chức, cá nhân này để kiểm soát các dấu hiệu rủi ro về hàng hoá giả mạo về SHTT.

MÃ ĐÈ TÀI 012

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *