Kinh nghiệm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp của các quốc gia

Kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp

Kinh nghiệm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp từ Ấn Độ

Từ năm 1990, chính phủ Ấn Độ đã thông qua cải cách kinh tế và một số chính sách công nghiệp mới. Vai trò của khu vực tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ được quan tâm như: cải cách thủ tục hành chính, cấp phép đầu tư, các quy định sản xuất kinh doanh. Bắt đầu những năm 2000, chính phủ đặc biệt quan

tâm đến các DNKN nên đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến DNKN. Đó là: năm 2000, Gói chính sách hỗ trợ toàn diện cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Năm 2001, thành lập các trung tâm ươm tạo trong ngành công nghiệp đối với doanh nghiệp quy mô nhỏ vào các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử, nguồn năng lượng phi truyền thống. Năm 2006, hành động phát triển DNKN: xác định rõ ràng về DNKN đó là tất cả doanh nghiệp dịch vụ và sản xuất, xác định trọng tâm và trọng điểm hỗ trợ DNKN. Năm 2013, lần đầu tiên khái niệm “doanh nghiệp khởi nghiệp” được đề cập trong luật doanh nghiệp. Năm 2015, chính sách hỗ trợ tiếp cận tài chính đối với DNKN. Năm 2016, cải cách thủ tục hành chính thành lập DNKN [197] [198].

Bên cạnh ban hành các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, chính phủ Ấn Độ đã thực hiện một số biện pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa các DNKN như: Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, đảm bảo các DNKN không bị cản trở về các quy định, cải cách luật doanh nghiệp, loại bỏ các quy định không phù hợp, giảm thuế, cải cách thủ tục hành chính thành lập DNKN, xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp mạnh mẽ để nuôi dưỡng sự đổi mới và tạo cơ hội cho DNKN, xếp hạng các địa phương để các địa phương tạo môi trường cho DNKN, chính phủ xây dựng đề án giúp DNKN tiếp cận vốn tốt hơn.

Hỗ trợ về vốn và phát triển các tổ chức hỗ trợ DNKN: chính phủ đã đưa ra chương trình MUDRA tái cấp vốn cho các tổ chức tài chính để cho các DNKN vay. Dựa trên các tiêu chí cụ thể, các DNKN có thể vay đến một triệu INR. Chính phủ cũng khuyến kích các nhà đầu tư thiên thần, các quỹ đầu tư mạo hiểm cấp vốn cho DNKN vào các lĩnh vực như công nghệ thông tin, AI, Robotisc, các lĩnh vự sử dụng công nghệ cao….Bên cạnh đó, chính phủ cũng khuyến khích các tổ chức hỗ trợ DNKN như tạo các vườn ươn khởi nghiệp, chương trình tăng tốc khởi nghiệp. Chi phí đào tạo được chính phủ hỗ trợ ngân sách, bên cạnh đó các chương trình khởi nghiệp sẽ được lồng ghép với các chương trình khác nhằm tận dụng kết quả của quá trình khởi nghiệp cũng như cung cấp khoa học kỹ thuật, vốn cho DNKN [197][198].

Bằng các biện pháp tích cực trên, Ấn Độ đã tạo được môi trường khởi nghiệp rất tốt cho các DNKN. Từ năm 2016 đến hết năm 2022 số lượng DNKN đạt trên 90 nghìn

DNKN thành lập, trải dài trên 56 lĩnh vực. Trong vòng 2 năm, từ năm 2020 đến 2022 đã có trên 100 DNKN được định giá trên 1 tỷ USD. Đây là bằng chứng vững chắc giúp các nước khác học hỏi Ấn Độ trong việc thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp [197] [198].

Kinh nghiệm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp từ Israel

Tính đến năm 2020 dân số của Israel hơn 9,2 triệu người nhưng với số lượng DNKN hơn 6.500 DNKN, được mệnh danh là “quốc gia khởi nghiệp” bởi sở hữu mật độ tập trung DNKN cao nhất thế giới. Để làm được điều này, chính phủ Israel đã thực hiện rất tốt các biện pháp thúc đẩy khởi nghiệp [199].

Liên kết, phát triển các tổ chức nghiên cứu và trường đại học: Ngay từ khi ngồi trong giảng đường, sinh viên đã được rèn luyện và truyền đạt các kiến thức về khởi nghiệp. Hầu hết sinh viên được khuyến khích tinh thần khởi nghiệp. Chính phủ với vai trò là đối tượng trung gian sẽ tiến hành kết giữa hộ doanh nhân trẻ với các nhóm các bạn sinh viên từ 15 đến 18 tuổi tham gia vào các chương trình khởi nghiệp nhỏ dưới sự hướng dẫn của tư vấn giáo dục nhà trường, trung tâm và những tình nguyện viên. Chính phủ sẽ tiến hành tài trợ vốn cho các chương trình này, bao gồm cả chương trình đào tạo và giảng dạy. Tại các trường đại học, Chính phủ kết hợp với chương trình IIA (Isreal Innovation Authority programmes) hỗ trợ các dự án khởi nghiệp với số vốn lên đến 66% chi phí, còn đối với học viện nghiên cứu có thể lên đến 80% các công trình nghiên cứu, 20% còn lại được chi bởi các đối tác công nghiệp [199][200].

Hỗ trợ ý tưởng khởi nghiệp và Liên kết với các tổ chức hỗ trợ DNKN: Chính phủ Israel hằng năm chi 200 triệu NIS để hỗ trợ các chương trình ươm tạo công nghệ, để nhằm thu hút các chương trình khoa học ngay từ giai đoạn sơ khai và xác định các ứng dụng công nghệ có tính thực tiễn. Tại các vườn ươm công nghệ sẽ cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, tư vấn… giúp các DNKN xác định công nghệ và ứng dụng thị trường cho ý tưởng, phát triển kế hoạch kinh doanh, tổ chức đội nhóm, gọi vốn và chuẩn bị gia nhập thị trường. Các dự án này được hỗ trợ 500 nghìn đến 800 nghìn USD. Đối với các chương trình tăng tốc khởi nghiệp, vị trí đặt các chương trình này ở các trường đại học, các trung tâm công nghệ, nơi đã hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp với độ tập trung cao như các quỹ đầu tư các nhà khởi nghiệp. Các chương trình tăng tốc khởi nghiệp được hỗ trợ từ giai đoạn ý tưởng đến giai đoạn thử nghiệm. Trong suốt thời gian chương trình, các DNKN được hỗ trợ tư vấn về vốn, tư vấn kinh doanh, đào tạo, liên kết với các nhà đầu tư tiềm năng. Với tất sự hỗ trợ trên, Israel đã tạo được môi trường khởi nghiệp hàng đầu thế giới cho các DNKN trong và ngoài nước tìm kiếm cơ hội [199] [200].

Kinh nghiệm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp từ Singapore

Singapore đã tạo ra một hệ sinh thái khởi nghiệp sôi động để nuôi dưỡng và phát triển các DNKN dựa trên công nghệ. Trên toàn cầu hệ sinh thái khởi nghiệp của Singapore xếp thứ 17 thế giới. Để có được kết quả trên là nhờ chính phủ đã tạo ra kết nối tốt với các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp [201] [202].

Chính phủ Singapore khuyến khích phát triển các quỹ đầu tư mạo hiểm trong nước cũng như thu hút các quỹ nước ngoài thành lập văn phòng tại nước mình. Chính phủ đã kết hợp với quỹ đầu tư mạo hiểm để cùng bỏ vốn thực hiện các dự án đầu tư. Bằng cách này, chính phủ cũng tận dụng được kết quả phân tích rủi ro của các nhà quản lý quỹ đối với dự án đầu tư. Bên cạnh đó cũng tạo nền tảng vững chắc cho các quỹ này phát triển.

Đối với dịch vụ hỗ trợ: các công ty khởi nghiệp đổi mới sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới mà quy định hiện hành có thể không phù hợp. Chính phủ Singapore đã tìm cách bắt kịp bằng cách điều chỉnh quy định, sử dụng các biện pháp linh hoạt để thử nghiệm các quy tắc mới nhằm phát triển các mô hình kinh doanh mới. Thêm vào đó, các dịch vụ hỗ trợ tạo ra các chương trình ươm tạo và tăng tốc khởi nghiệp. Các chương trình này có thể cung cấp, hướng dẫn công nghệ và cố vấn chính xác. Họ cũng cung cấp các cơ hội kết nối với các DNKN trong các lĩnh vực nhằm giúp các DNKN tìm được đối tác cần thiết để có dự án khởi nghiệp thành công.

Đối với các tổ chức nghiên cứu và trường đại học: Singapore có hệ thống giáo dục chất lượng cao ở cấp tiểu học, trung học và đại học. Một loạt các trung tâm nghiên cứu liên quan đến công nghệ đã được thành lập, hầu hết có trụ sở tại các trường đại học và trường bách khoa của đất nước. Chính phủ cung cấp hỗ trợ tài chính đáng kể cho nghiên cứu thông qua các trung tâm, các DNKN có thể kết nối với các trung tâm này.

Thêm vào đó, Chính phủ Singapore cũng thường xuyên tổ chức các diễn đàn, hội nghị và sự kiện liên quan đến công nghệ trong các lĩnh vực công nghệ, kinh doanh và đổi mới. Những hoạt động này không chỉ củng cố văn hoá đổi mới mà còn thúc đẩy, tạo cơ hội cho các ý tưởng khởi nghiệp với các công ty còn non trẻ. Đây là một trong những khía cạnh quan trọng của hệ sinh thái khởi nghiệp [201] [202].

Kinh nghiệm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp từ Thụy Điển

Thụy Điển tuy nhỏ bé nhưng là nơi sản sinh ra rất nhiều doanh nghiệp điển hình khởi nghiệp thành công. Một số ví dụ điển hình có thể kể đến là Spotify, Minecraft hay Candy Crush Saga. Để có thể có được những thành công trên đó có sự đóng góp rất lớn của các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp [203] [204]:

Chính sách giáo dục: Đào tạo khởi nghiệp cho thanh niên được thực hiện rộng rãi trong hệ thống giáo dục. Việc đào tạo cho đến cấp trung học phổ thông, nơi học sinh bắt đầu kinh doanh như một dự án tinh thần khởi nghiệp. Sau khi vào đại học các trường đại học đều có các vườn ươm doanh nghiệp. Hầu hết các vườn ươm này được định hướng cụ thể cho các công ty khởi nghiệp công nghệ cao và nhiều vườn ươm được đặt ở các trung tâm kỹ thuật lớn. Tuy nhiên, mục đích của các cơ sở ươm tạo được tài trợ bởi ngân sách nhà nước và khuyến khích người trẻ khởi nghiệp, đặc biệt là ứng dụng công nghệ cao. Thêm vào đó, Thuỵ Điển còn xây dựng những chương trình nữ doanh nhân, đây là các chương trình nhằm thúc đẩy tinh thần kinh doanh của phụ nữ. Chương trình này sẽ tiến hành cố vấn và liên kết các tổ chức để giúp các phụ nữ giảm thiểu khó khăn khi tham gia khởi nghiệp.

Chính sách tài chính: Thuỵ Điển được xếp hạng là nước có thứ hạng cao về khả năng tiếp cận tài chính. Với các chính sách và chương trình khởi nghiệp, chính sách tài chính tốt sẽ tạo điều kiện cho các DNKN tiếp cận nguồn vốn tài chính tốt nhất. Hiện tại, không có sản phẩm ưu đãi dành riêng cho đối tượng khởi nghiệp nào (phụ nữ, thanh niên, người cao tuổi…) bởi Thuỵ Điển coi mọi người đều công bằng trong tiếp cận tài chính. Hiện tại, Thuỵ Điển hỗ trợ tài chính lớn cho các DNKN áp dụng công nghệ cao và tăng trưởng cao. Tuy nhiên, số lượng vốn vay vẫn còn nhiều hạn chế. Các tổ chức có thể cung cấp các khoản vay nhỏ lên đến 25.000 EUR cho các doanh nghiệp có ít hơn 10 nhân viên. Các khoản vay này có các điều khoản thuận lợi về lãi suất, điều kiện hoàn vốn dành cho tất cả các DNKN. Đối với các dự án lớn, có sức ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế Thuỵ Điển sẵn sàng đứng ra bảo lãnh tín dụng cho các DNKN này, giúp các doanh nghiệp gặp ít khó khăn về vốn ít nhất có thể. Thêm vào đó, đối với những người thất nghiệp cũng có cơ hội khởi nghiệp đó là: chính phủ hỗ trợ pháp lý bổ sung cho khởi nghiệp kinh doanh, có thể trợ cấp thất nghiệp trong sáu tháng cho những người thất nghiệp có thể chứng minh ý tưởng khởi nghiệp có chất lượng bằng kế hoạch kinh doanh và tài chính. Đối với người khuyết tật thất nghiệp cũng được cung cấp một nguồn tài chính nhỏ để họ có thể tự kinh doanh nhất là trong thời buổi kinh doanh online như hiện nay.

Nghiên cứu thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp từ Thụy Điển đã chỉ sự thành công trong việc xây dựng và ban hành các chính sách thúc đẩy nghề nghiệp. Ngoài ra, Chính phủ cũng đã xây môi trường khởi nghiệp rất tốt như các DNKN có được cơ sở hạ tầng hiện đại, các vườn ươm khởi nghiệp, kết nối giữa các thành phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp với các nhà khởi nghiệp để có những hỗ trợ cần thiết. Đây là những giải pháp tính thiết thực cao, đáp ứng nhanh, đầy đủ những yếu tố cần thiết để giúp các DNKN có được môi trường tốt nhất để phát triển [203] [204].

 Bài học kinh nghiệm về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam

Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm từ các quốc gia khởi nghiệp thành công. Bài học rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam đó là:

Thứ nhất, tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp. Các chính sách hỗ trợ của các quốc gia đang xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp là ở cơ chế hỗ trợ, mức độ dễ dàng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ, thủ tục đơn giản và chi phí khởi nghiệp thấp, mức độ dễ dàng tiếp cận nguồn tài chính, chuyển giao công nghệ, phát triển thị trường thế giới, xúc tiến đào tạo quản trị doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bên cạnh đó còn có cả những hỗ trợ phi tài chính như huấn luyện đào tạo, xây dựng khu tập trung dịch vụ cho khởi nghiệp, cung cấp cơ sở vật chất kỹ thuật và những hỗ trợ tài chính cho hệ sinh thái khởi nghiệp. Các quốc gia như Singpore có những quỹ đầu tư đối tư đối ứng vốn với tư nhân. Để làm được điều này, Việt Nam cần tập trung xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp có sự tham gia hỗ trợ của Chính phủ và một mạng lưới liên kết chặt chẽ để phát triển các DNKN bao gồm: Các doanh nghiệp khoa học và công nghệ mới khởi nghiệp, các doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã thành công, các nhà đầu tư thiên thần, các viện nghiên cứu, trường đại học, các quỹ đầu tư, các cơ sở ươm tạo, các tổ chức thúc đẩy kinh doanh, các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp khác. Nhà nước sẽ nắm vai trò kết nối các chủ thể và điều phối, thường xuyên hỗ trợ cho các chủ thể trong mạng lưới này để hệ thống sinh thái khởi nghiệp có thể hoạt động và phát triển một cách bền vững.

Thứ hai, phát huy vai trò tích cực của khu vực kinh tế tư nhân. Kinh nghiệm từ Israel cho thấy, khu vực tư nhân hoạt động rất hiệu quả và có khả năng giúp Chính phủ giải quyết rất nhiều vấn đề xã hội và việc làm cho nền kinh tế. Bản thân các DNKN khi mới khởi nghiệp cũng rất cần sự hỗ trợ về chuyên môn, kinh nghiệm và nguồn lực để tiến hành sản xuất kinh doanh hiệu quả; đồng thời những người làm chủ các doanh nghiệp tư nhân cũng chính là những người khởi nghiệp thành công. Do vậy, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước và tư nhân thông qua hình thức hợp tác đầu tư, để cùng nhau chia sẻ trách nhiệm, phát huy lợi thế, năng lực của mỗi bên để thành lập và phát triển các công ty khởi nghiệp.

Thứ ba, áp dụng các chính sách hỗ trợ về pháp lý, thủ tục hành chính và thuế cho hoạt động liên quan đến khởi nghiệp. Các điều kiện, chính sách của Nhà nước cần được cải cách theo hướng giảm bớt các rào cản về vốn, rút ngắn thời gian để hình thành doanh nghiệp, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo sự thông thoáng trong cơ chế và chính sách đầu tư; Áp dụng chính sách ưu đãi về thuế cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển, nhằm khuyến khích sự đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp, xây dựng các chính sách để giảm bớt các rào cản vốn, có các cơ chế thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút các quỹ đầu tư rót vốn vào các dự án khởi nghiệp tạo điều kiện cho các DNKN được tiếp cận vốn đầu tư.

Thứ tư, kích hoạt các chính sách nhằm kết nối các thành phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp tạo nên một mạng lưới liên kết chặt chẽ để phát triển hoạt động khởi nghiệp.

MÃ ĐỀ TÀI 005

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *